Ba - Vị ngôn sứ của Thiên Chúa
Gia đình tôi tuy nghèo, nhưng những gì có thể cho tôi, ba đều cố gắng thực hiện, cả về vật chất cũng như tinh thần.

Trong năm tập giáo quy, tôi có 365 ngày sống trọn vẹn trên “núi” với Chúa. Đó là thời gian ân sủng để tôi cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa, đồng thời cũng là lúc phân định cách mãnh liệt về ý định chọn lựa của mình. Bên cạnh việc linh thao, tôi còn được mời gọi viết lại hành trình đức tin của mình từ khi sinh ra cho đến lúc đó. Tôi như được sống lại với lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Nhìn về quá khứ với niềm tri ân, sống hiện tại cách say mê và nhắm đến tương lai với niềm hy vọng”[1]. Tri ân một quá khứ đã làm nên những trang lịch sử mang đậm dấu ấn đức tin, được kết dệt qua từng biến cố của cuộc sống, đặc biệt là biến cố được Thiên Chúa tuyển chọn. Từng chương, từng đoạn được viết và xâu chuỗi lại với nhau, giúp cho tôi thấy rõ một khuôn mặt luôn đồng hành cùng tôi trong hành trình đức tin, không ai khác đó là “ba” – người đã giúp tôi tìm kiếm thánh ý Chúa. Cũng chính ba, làm cho tôi có thêm động lực để tiếp tục viết tiếp những trang mới của hiện tại và tương lai đầy hy vọng trong đời sống dâng hiến của mình.
Tôi biết về thời thơ ấu của mình qua lời kể của ba. Là đứa con gái đầu lòng, tôi được đón nhận tình thương yêu của ba mẹ, ông bà... Gia đình tôi tuy nghèo, nhưng những gì có thể cho tôi, ba đều cố gắng thực hiện, cả về vật chất cũng như tinh thần. Cầm tấm hình trên tay, ba kể tôi nghe ngày hành hương Đức Mẹ La Vang đầu đời của tôi. Năm đó, tôi mới một tuổi, một nhà ba người trên chiếc xe đạp vượt hơn 80 km để đến với Mẹ, không làm gì hơn ngoài việc tạ ơn và dâng tôi cho Mẹ. Hy vọng Mẹ gìn giữ và chúc lành cho tôi. Rồi thời gian thấm thoát trôi qua, tôi lớn lên và trở thành chị cả của bốn đứa em trong gia đình. Dù vậy, tôi không phải vất vả, hay lo nghĩ gì về những việc lớn nhỏ trong gia đình. Ba thường nói: “Con hãy học thật giỏi, để thoát khỏi cái nghèo mà ba mẹ đang phải trải qua, con cũng phải là một tấm gương cho các em noi theo”. Ba tôi là một người thông minh, học giỏi, nhưng vì gia đình không có điều kiện nên phải dừng việc học để phụ giúp gia đình, ba hiểu nỗi vất vả khi “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” và không muốn những đứa con của ba cũng chịu những nỗi khổ đó. Vì thế, khi tôi có ý định muốn nghỉ học sau lớp 9, ba đã tiếng lớn tiếng nhỏ khuyên bảo tôi, giúp cho tôi chọn điều tốt nhất, trong khi các bạn cùng trang lứa với tôi đã chọn điều ngược lại.
Từ khi lên cấp III, ba tôi luôn gợi ý cho tôi về việc quyết định chọn lựa một con đường cho tương lai của mình, ba khuyến khích tôi dâng mình cho Chúa, nhưng lúc đó tôi đã cự tuyệt cách thẳng thắn, tôi không thấy mình có dấu hiệu được Thiên Chúa chọn gọi. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn được Chúa đánh động bởi một câu chủ đề ngắn ngủi: “Hãy theo Thầy”[2] khi đến tham dự ngày hội ơn gọi tại Hội dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Ngày tôi đến chào quý Sơ trong Cộng đoàn Giáo xứ để lên Dòng, tôi mới để ý đến lời kể của Ba, tết năm ấy gia đình tôi rút được câu lộc xuân: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương”[3]. Cảm xúc lúc ấy của tôi thật khó tả, tôi cảm nghe được sự xác tín của Thiên Chúa đang nói với tôi qua trung gian “vị ngôn sứ” gần gũi này, người luôn giúp tôi phân định và nhận ra ý muốn của Chúa. Sau này tôi mới hiểu lời của một Linh mục nói: “Các bậc cha mẹ phải là những người thường xuyên khuyến khích và động viên con cái mình đi tu, bởi vì đó là dấu hiệu đầu tiên của Thiên Chúa”.
Thật khó chịu với năm đầu tiên xa nhà, cảm giác đau tận ruột gan khi nhớ về những người thân yêu của mình. Tháng nào, ba tôi cũng chịu khó chở mẹ và các em lên thăm tôi, dù gặp nhau chỉ nhìn nhau trong nước mắt nhưng đó vẫn là một niềm an ủi lớn lao gia đình dành cho tôi. Ba biết tôi nhớ nhà, ba thương tôi những ngày mưa lạnh của xứ Huế, lo lắng không biết tôi ăn có đủ no, mặc có đủ ấm, có quen với môi trường mới, quen với chị em, bạn bè mới hay chưa,... Dù vậy, ba cũng rất tâm lí không hỏi trực tiếp tôi vì sợ tôi buồn, ba luôn tìm cách an ủi và khích lệ tôi vượt qua những khó khăn ban đầu ấy. Khi thấy tôi đã dần quen với cuộc sống mới, ba giảm bớt việc thăm viếng lại với ý định để cho tôi chú tâm vào việc học tập và rèn luyện trong nếp sống tu trì. Cũng vì không muốn tôi bận tâm lo lắng gì, nên ba rất ít khi cho tôi biết về những biến cố lớn nhỏ trong gia đình, tôi chỉ biết về nó sau khi ba tôi đã gồng gánh để trải qua.
Năm vừa qua, lúc cả ba và mẹ tôi bước vào tuổi 49, mọi khó khăn như ập xuống trên họ, những giọt nước mắt và nỗi hoang mang sợ hãi in sâu trong mẹ và cũng làm cho ba lo lắng, đó cũng là thời điểm tôi đang chuẩn bị để thi đầu vào lớp thần học. Với những triệu chứng xưng phù chân, vết thương không lành, sốt cao, mệt mỏi... ba tôi phải ở bệnh viện một thời gian khá dài để điều trị, trước khi biết được nó không nguy hiểm gì, cả gia đình tôi đã lo lắng rất nhiều vì không phát hiện ra nguyên nhân của nó. Chưa an lòng được mấy hôm thì nhà tôi lại bị cháy vì chập điện. May mắn thay, không có ai ở nhà, khi mẹ tôi về đến nhà thì đã được hàng xóm dập lửa cho. Trong khi mọi người đều chia sẻ những khó khăn mà gia đình tôi phải gặp phải bằng những câu đầy cảm thán với sự quan tâm, an ủi, thì ba tôi lại đón nhận nó bằng một lời tạ ơn. Hơn nữa, ba còn cho đó là may mắn, may mắn không có đứa em nhỏ của tôi ở nhà, may mắn ngọn lửa đã được dập tắt và sự hư hại chưa phải là hoàn toàn, may mắn vì vẫn có những anh chị em, bạn bè nâng đỡ trong những lúc khó khăn. Hình ảnh của ba gợi cho tôi nhớ đến câu nói của ông Gióp: “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng danh Đức Chúa”[4]. Theo gương của ba, tôi cũng dâng lời tạ ơn Chúa, tôi an ủi những người thân của tôi bằng lời khích lệ và lời cầu nguyện[5]. Thật là một cơ hội quý giá để gia đình tôi “thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa và hành động của Ngài”[6], biết sống tín thác và cậy trông vững vàng vào Chúa.
Đối với một người có đời sống đức tin còn non yếu, đặc biệt là trước những khó khăn thử thách, nhiều khi việc phân định thánh ý Chúa là một điều khó khăn dành cho tôi. Lắm lúc, tôi thấy mình hay chiều theo những ý kiến riêng của mình chứ không theo ý Chúa. Điều đó dẫn đến sự trách móc, thiếu tin tưởng, bớt cậy trông vào Chúa khi thấy Ngài chọn điều khác tôi. Ba đã là một ngôn sứ giúp tôi lắng nghe và phân định ý Chúa, ba cũng đang gián tiếp giúp tôi sống mối tương quan thiết thân với Chúa và sẽ mãi là một ngôn sứ trung gian giữa tôi với Chúa; như Môsê đã thực hiện cho dân Israel xưa. Thời gian sẽ làm cho ba – vị ngôn sứ của Thiên Chúa, sẽ già đi và sẽ không còn trên cõi đời này nữa; đó là một quy luật tự nhiên và tôi không thể níu giữ ba mãi cho riêng mình. Tôi chỉ có thể giữ cho mình hình ảnh về ba – một vị ngôn sứ vĩ đại của Thiên Chúa trên cuộc đời tôi.
Tôi hạnh phúc với một quá khứ đã qua, có tươi đẹp, có bình an, có niềm vui và cũng có những trở ngại. Tôi hạnh phúc với hiện tại đầy yêu thương và lòng tín thác vào Chúa. Tôi cũng hạnh phúc khi hướng đến tương lai, với niềm hy vọng được trở nên một ngôn sứ của Thiên Chúa. Vì chính tôi đã được dẫn dắt để nhận biết ý muốn của Thiên Chúa, tôi cũng được mời gọi trở nên một ngôn sứ cho mọi người để dẫn dắt họ đến với Chúa, thực thi trọn vẹn sứ vụ ngôn sứ của bí tích Rửa tội.
M. Matta Diễm Quỳnh (Học viện Bêtania), FMI