Bài học từ lịch sử...

Giáo hội tồn tại không phải cậy dựa vào khả năng tổ chức hay sức mạnh của con người nhưng nhờ vào sự hiện diện và hoạt động của Đức Kitô...


Lịch sử là quá khứ nhưng là bài học cho hiện tại và hướng mở tới tương lai. Nhìn lại lịch sử Giáo hội với hơn hai ngàn năm thăng trầm, ta nhận ra đó không chỉ đơn thuần là một chuỗi những sự kiến, biến cố, mà còn là một phần của lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa tiếp tục thực hiện trong thế giới. Trong dòng chảy lịch sử đó, ta nhận thấy sự gặp gỡ giữa ân sủng và sự mong manh của con người. Thật thế, lịch sử Giáo hội vừa rực sáng bởi chứng tá của sự thánh thiện, vừa mang dấu ấn của những yếu đuối và tội lỗi. Khi nhìn về lịch sử ấy, ta không chỉ đọc lại câu chuyện của một cộng đoàn đức tin, mà còn chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa đang hoạt động trong lòng nhân loại.

Ngay từ những ngày đầu khi còn non trẻ, Giáo hội đã phải đối diện với nhiều khó khăn nội tại và ngoại tại. Các Kitô hữu tiên khởi phải sống đức tin trong hoàn cảnh bách hại, tù đày và thậm chí là chịu chết. Tuy nhiên, chính trong sự khó khăn ấy mà quyền năng của Thiên Chúa được tỏ lộ. Máu của các vị tử đạo trở thành “hạt giống làm nảy sinh các Kitô hữu”, như lời của Giáo phụ Tertullianô đã nói: “Sanguis martyrum semen christianorum”[1]. Lời nhận định này phản ánh một trực giác thần học sâu sắc của Giáo hội sơ khai: sự đau khổ vì Đức Kitô không làm suy yếu Giáo hội, nhưng trái lại trở thành nguồn mạch làm cho Giáo hội sinh hoa kết trái trong lịch sử. Trải qua những khó khăn, thử thách, đức tin của Giáo hội kiên vững hơn, nhờ đó mà niềm tin đặc thù Kitô giáo được xác định cách minh nhiên.

Qua nhiều thế kỷ, Chúa Thánh Thần tiếp tục hoạt động, dẫn dắt Giáo hội trong hành trình phát triển về thần học, phụng vụ và đời sống thiêng liêng. Những vị thánh, những nhà thần học lớn như Augustinô, Tôma Aquinô, Phanxicô Assisi hay Têrêsa Avila đã góp phần làm sáng tỏ và đào sâu mầu nhiệm đức tin. Các phong trào canh tân, các dòng tu và công cuộc truyền giáo đã giúp Tin Mừng được loan báo đến khắp các dân tộc. Trong những thời điểm ấy, vẻ đẹp của Giáo hội được biểu lộ như dấu chỉ sống động của Nước Thiên Chúa giữa trần gian.

Tuy nhiên, lịch sử Giáo hội cũng không thiếu những giai đoạn đầy bóng tối. Có lúc quyền lực, tham vọng và tội lỗi của con người đã làm mờ đi khuôn mặt Đức Kitô. Giáo hội đã có lúc trải qua thời kỳ đen tối nhất của các triều đại Giáo hoàng với những hành động như buôn bán chức thánh, Giáo hoàng có con, Giáo sĩ sống xa hoa... Sự hiệp nhất của Giáo hội bị tổn thương bởi việc ly khai, chia rẽ. Nhưng ngay cả trong những thời điểm ấy, Giáo hội vẫn không đánh mất bản chất thánh thiện của mình. Bởi sự thánh thiện của Giáo hội không phát xuất từ sự hoàn thiện của con người, mà từ chính Đức Kitô, Đấng là Đầu và là nguồn sống của Giáo hội.

Công đồng Vatican II đã diễn tả chân lý này khi khẳng định rằng Giáo hội “vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện”[2]. Điều đó nhắc nhở rằng Giáo hội luôn ở trong một hành trình hoán cải liên lỉ. Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động để đổi mới và thanh tẩy Giáo hội, giúp Giáo hội ngày càng trung thành hơn với Tin Mừng của Đức Kitô.

Nhìn lại dòng lịch sử ấy, ta thấy con thuyền Giáo hội đã phải vượt qua biết bao sóng gió của thời đại: từ các cuộc bách hại, những cuộc ly giáo, các khủng hoảng nội bộ cho đến những thách đố của thế giới hiện đại. Tuy vậy, con thuyền ấy vẫn tiếp tục tiến bước qua hơn hai ngàn năm lịch sử. Giáo hội tồn tại không phải cậy dựa vào khả năng tổ chức hay sức mạnh của con người nhưng nhờ vào sự hiện diện và hoạt động của Đức Kitô như lời Ngài đã hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Khi suy tư về lịch sử Giáo hội dưới ánh sáng đức tin, tôi cũng nhận ra nơi đó hình ảnh của chính hành trình thiêng liêng của mình. Đời sống đức tin của tôi cũng trải qua những giai đoạn sốt sắng và trung thành, nhưng cũng không thiếu những lúc yếu đuối và sa ngã. Giống như lịch sử Giáo hội, cuộc đời tôi là một câu chuyện được dệt nên bởi ân sủng của Thiên Chúa và sự giới hạn của con người. Chính vì thế, lịch sử Giáo hội trở thành một lời mời gọi thiêng liêng. Nó nhắc tôi rằng Thiên Chúa vẫn đang hoạt động ngay cả trong những hoàn cảnh tưởng chừng tối tăm nhất. Như Ngài đã kiên nhẫn dẫn dắt Giáo hội qua biết bao thế kỷ đầy sóng gió, thì Ngài cũng đang kiên nhẫn hướng dẫn cuộc đời tôi.

Đồng thời, lịch sử ấy cũng dạy tôi biết sống niềm hy vọng trước những yếu đuối của tha nhân. Khi chứng kiến những sai lầm hay tội lỗi trong Giáo hội hoặc nơi chị em, tôi được mời gọi không rơi vào thất vọng hay phán xét, nhưng tin tưởng rằng Thiên Chúa vẫn đang âm thầm hành động. Thật vậy, Thiên Chúa có thể viết thẳng trên những đường cong, Ngài có thể dùng chính những sai lầm, nghịch cảnh hay thất bại của con người để viết tiếp chương trình cứu độ của Chúa.

Lịch sử Giáo hội không chỉ là ký ức của quá khứ, nhưng là một thực tại sống động của hiện tại. Đó là lời mời gọi mỗi người tín hữu tiếp tục sống đức tin, nuôi dưỡng niềm hy vọng và tín thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Giữa những sóng gió của thế gian, con thuyền Giáo hội vẫn đang tiến bước cùng với sự hiện diện của Đức Kitô và hoạt động của Chúa Thánh Thần. Và chính Đức Kitô cũng đang hiện diện trong hành trình cuộc đời của mỗi chúng ta.

Maria Thanh Thúy (Học viện SG), FMI  


[1] Tertullianô, Apologeticus chương 50 trong The Ante-Nicene Fathers, Tập 3, chủ biên Alexander Roberts and James Donaldson (Buffalo, NY: Christian Literature Publishing Co., 1885), tr.55

[2] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin HĐGMVN (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), s.8