Chương trình Tĩnh nguyện Lễ giỗ 90 năm của Đức Cha Eugène Marie Joseph Allys
Chủ đề: Đức Cha Allys - Người môn đệ thừa sai
Chủ đề: Đức Cha Allys - Người môn đệ thừa sai
-----------------
(Trước giờ khai mạc mở nhạc bài “Cha yêu mến mọi người”)
1. Lời dẫn nhập (CĐ ngồi)
Kính thưa cộng đoàn,
Chúng ta đang sống trong bầu khí chan hòa niềm vui của mùa Phục Sinh, trong thư tháng 4/2026 có viết: Ngày 23/4 năm nay đánh mốc tròn 90 năm ngày về trời của Đức cha Eugène Marie Joseph Allys Lý (23/4/1936), vị Giám mục thứ V của Tổng Giáo phận Huế, đồng thời là Đấng Sáng lập Hội dòng chúng ta (1920) và Dòng Thánh Tâm (1925).
Dịp giỗ tổ là một cơ hội tuyệt vời để làm tăng thêm lòng yêu mến của những người được gọi là “những đứa con gái, những đứa con trai” của Cha Tổ phụ và là thời điểm để con cái của Ngài thỏa sức sáng tạo cách thức tâm tình bên trong hay thể hiện bên ngoài để tỏ lòng biết ơn Ngài.
Tối hôm nay, cộng đoàn chúng ta quy tụ nơi đây để cùng nhau tĩnh nguyện Lễ giỗ 90 năm của Đấng Sáng lập Hội dòng, với chủ đề: Đức Cha Allys – Người môn đệ thừa sai.
Chín mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Cha hoàn tất hành trình dương thế, nhưng tình yêu, tinh thần truyền giáo và gia sản thiêng liêng Cha để lại vẫn tiếp tục sống động trong Hội dòng và trong sứ vụ của mỗi người chúng ta hôm nay.
Như hạt lúa được gieo vào lòng đất để trổ sinh nhiều bông hạt, cuộc đời Cha đã âm thầm hiến dâng để làm bừng sáng đức tin nơi đất nước Việt Nam nhỏ bé, cách riêng nơi Giáo phận Huế và trong chính Hội dòng chúng ta.
Trong tâm tình thảo hiếu và tri ân, giờ đây chúng ta cùng nhau lắng đọng tâm hồn, ôn lại gia sản thiêng liêng Cha để lại, và xin Chúa giúp mỗi người chúng ta biết tiếp bước đi trên con đường truyền giáo, hầu mỗi người cũng trở nên một môn đệ thừa sai trong thế giới hôm nay theo tinh thần của Ngài.
Xin mời cộng đoàn cùng đứng và hát kinh Chúa Thánh Thần, xin Ngài thánh hóa giờ tĩnh nguyện của chúng ta.
2. Làm dấu - Hát kinh Chúa Thánh Thần (sách CT: 24)
3. Dâng trầm - hoa
Dâng hương trầm: (5 người dâng bát trầm)
Trong tâm tình sốt mến, giờ đây chúng ta cùng dâng nén hương trầm. Hương trầm tỏa bay tượng trưng cho lời cầu nguyện và lòng biết ơn của chúng con dâng lên Thiên Chúa, đồng thời diễn tả tâm tình tưởng nhớ và tri ân đối với Đức Cha Allys - người Cha đã hiến trọn cuộc đời cho vùng truyền giáo mà cha được sai đến.
Dâng hoa: (2 người dâng hoa)
Những đóa hoa tươi thắm biểu lộ tấm lòng hiếu thảo của chúng con. Xin cho cuộc đời mỗi người chúng con cũng trở thành những bông hoa thánh thiện dâng lên Thiên Chúa qua đời sống chứng tá, yêu thương và phục vụ.
4. Công bố Lời Chúa
Trích Tin Mừng theo thánh Matthêu (Mt 5,14-16)
“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại đặt dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.
Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
Đó là Lời Chúa.
(Thinh lặng giây lát)
5. Thắp nến “Ba ánh sáng truyền giáo”
Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu nói:
“Anh em là ánh sáng cho trần gian.”
Ánh sáng Tin Mừng luôn được truyền đi từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Trong giờ tĩnh nguyện tưởng nhớ 90 năm ngày về trời của Cha Tổ phụ, chúng ta cùng chiêm ngắm ba ánh sáng tượng trưng cho hành trình đức tin và sứ mạng mà Cha đã khởi sự và chúng ta được mời gọi tiếp nối hôm nay.
Ánh sáng thứ nhất – Ánh sáng Đấng Phục sinh
Ánh sáng thứ nhất là ánh sáng của Đấng Phục sinh, nguồn mạch của mọi ơn gọi và mọi sứ mạng trong Giáo hội.
(Ngọn nến thứ nhất)
Ánh sáng thứ hai – Ánh sáng Đấng Sáng lập
Từ ánh sáng Đấng Phục sinh, Đức Cha Allys đã trở nên một ánh sáng giữa vùng đất truyền giáo.
(Ngọn nến thứ hai)
Ánh sáng thứ ba – Ánh sáng tiếp nối hôm nay
Ánh sáng thứ ba tượng trưng cho Hội dòng và sứ mạng của chúng ta hôm nay.
Chín mươi năm đã trôi qua, nhưng ánh sáng Cha thắp lên vẫn tiếp tục lan tỏa qua các thế hệ nữ tu Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.
(Ngọn nến thứ ba)
Xin cho mỗi người chúng ta biết tiếp nối ánh sáng mà Đấng Sáng lập đã nhận từ Đức Giêsu Kitô- Đấng Phục sinh.
(Khi đọc lời dẫn 3 người lên dâng nến)
(Mời CĐ ngồi)
6. Đôi nét tiểu sử Đức cha Allys
Đức cha Eugène Marie Joseph Allys, một Giám mục thuộc hội Thừa Sai Paris, đã có công lớn với Giáo phận Huế. Ngài là một nhà truyền giáo nhiệt thành.
Ngài sinh ngày 12/2/1852 tại Paimpont thuộc Giáo phận Rennes nước Pháp trong một gia đình đạo đức có 8 người con, trong đó có hai linh mục và một nữ tu. Sau thời gian tu học tại Tiểu chủng viện và Đại chủng viện giáo phận Rennes, ngày 27/7/1872, ngài chuyển sang chủng viện Thừa Sai Hải Ngoại Paris. Ngày 10/10/1875, Ngài thụ phong linh mục. Chỉ sau 2 tháng, ngày 16/12/1875 ngài lên đường truyền giáo tại Việt Nam, lúc đó mới 23 tuổi.
Vừa đến Huế, ngài được gởi tới Viện Dục Anh Kim Long để học tiếng Việt. Đức Cha Sohier đã nhanh chóng nhận thấy và đánh giá cao vị linh mục này. Vui thích vì các đặc tính của trí óc và con tim vị thừa sai, một ngày kia, Đức cha Sohier nói với một linh mục người Việt rằng: “Người đồng sự trẻ này sẽ trở thành Bề trên của Miền Truyền Giáo”. Một lời tiên tri sẽ ứng nghiệm vào 32 năm sau.
Đức cha Allys là một nhà truyền giáo nhiệt thành, vui tươi, miệt mài đến với lương dân. Ngài là người của mọi người, cửa nhà ngài luôn rộng mở đón tiếp. Ngài có nhiều đức tính tuyệt vời. Đây là năm nét tinh thần nổi bật nơi Đức cha:
- Đức cha Allys, con người nội tâm: Ngài yêu mến và trung thành với đời sống cầu nguyện. Tiểu sử ngài ghi lại: “sau giờ kinh chung với giáo dân ban tối, ngài ở lại chầu Thánh Thể rất lâu. Thời gian hưu trí mù lòa, ngài thường ở trong nhà thờ suốt buổi chiều để cầu nguyện và chầu Thánh Thể. Ngài yêu mến và tin tưởng vào hoạt động của Chúa Thánh Thần. Ngài cũng say mê Đức Mẹ, thường xuyên thấy ngài với tràng chuỗi trên tay”.
- Đức cha Allys, nhân cách tuyệt vời: Trong ngày trao tặng huy chương Toàn quyền Pasquier đã phác họa chân dung của vị Giám mục trong một bài diễn văn như sau: "Khi chính quyền gắn huy chương đỏ trên áo tím Giám mục của ngài là có ý biểu dương những đức tính hùng dũng và chắc chắn nơi ngài. Ngài mang những đức tính ấy với một lòng quả cảm không bao giờ tắt nụ cười trên môi với lòng nhiệt thành đến độ hăng say, một sự lạc quan thổi vào những ngọn lửa đang chập chờn".? Cuộc sống ngài đơn sơ khó nghèo, ngài yêu cầu tổ chức đám tang đơn sơ, không vòng hoa, không điếu văn.
- Đức cha Allys, người mục tử nhiệt thành: Ngài nhiệt tâm thao thức việc truyền giáo cho lương dân và tìm kiếm trẻ em bị bỏ rơi hay sắp chết. Ngài khuyến khích linh mục đến với lương dân. Sau thời bắt đạo cấm cách, các nhà thờ bị phá hủy, ngài thao thức xây nhà nguyện và đào tạo các thầy giảng.
- Đức cha Allys, thao thức cho việc giáo dục: Đức cha Allys luôn canh cánh bên lòng mối ưu tư về lớp trẻ cần được giáo dục về đức tin và văn hóa. Khi bão tố cấm cách đã tạm yên, Đức cha thấy Giáo phận Huế có nhiều trường giáo xứ hơn nhưng thiếu các giáo viên được huấn luyện chu đáo, nhiều trẻ em không được đến trường, một số khác được đến trường nhưng lại là trường do các thầy bên lương điều khiển, họ thường xuyên chống đối Giáo hội. Vì vậy, ngài thao thức mở trường tư thục, và thành lập hai Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm và Dòng Thánh Tâm.
- Đức cha Allys, người của mọi người: Trái tim ngài ôm ấp mọi người, cửa nhà ngài rộng mở tiếp đón dân thường cũng như quan lại. Ngài tận tụy giúp đỡ những người Công giáo cũng như lương dân. Người lương tặng cho ngài biệt danh dễ thương: "Ông tiên bên đạo", hay "Giám mục mỉm cười".
Sau chuỗi ngày dài lao nhọc trong cánh đồng truyền giáo, sức khỏe ngài ngày một hao mòn, thân hình tuy mảnh khảnh, nhưng nụ cười luôn nở trên môi. Ngài chấp nhận cảnh mù lòa trong suốt 5 năm hưu trí (1931-1936); với tính năng nổ, hăng say thì đây thật là một thánh giá nặng cho ngài. Đầu tháng 4, sức khỏe ngài càng yếu dần. Trong khi lãnh nhận bí tích xức dầu ngày 09.04.1936, ngài xin lỗi các linh mục hiện diện, ngài thì thào câu: "Combien Je Vous aime tous" (Cha thương mến tất cả các con biết bao). Đó cũng là lời cuối cùng của vị mục tử nói với đoàn chiên và cũng là câu châm ngôn Giám mục của Ngài: "Diligo omnes" (tôi thương mến mọi người).
Trưa ngày 23 tháng 4 năm 1936, ngài nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng trong tay Chúa và Mẹ Maria Vô Nhiễm. Thi hài ngài được mai táng tại nghĩa trang các linh mục ở Phủ Cam. Ngày 06.08.1986, mộ phần ngài được cải táng về nghĩa trang giáo phận tại Thiên Thai, Huế. Đức cha Allys hưởng thọ 84 tuổi với 61 năm linh mục trong đó có 28 năm Giám mục.
Thinh lặng
Hát: Từng hạt lúa (M1: 60)
7. Tinh thần truyền giáo của Đức cha Allys
Khi chiêm ngắm cuộc đời Đức cha Allys, điều đánh động chúng ta không chỉ là những thành quả truyền giáo, nhưng là một tình yêu - một tình yêu đủ lớn để từ bỏ, đủ sâu để trung thành, và đủ mạnh để dâng hiến.
Cha đã ra đi, rời gia đình, rời quê hương khi còn rất trẻ. Ra đi không phải vì phiêu lưu, cũng không phải để tìm kiếm điều gì cho bản thân, nhưng chỉ vì một tiếng gọi. Một tiếng gọi âm thầm nhưng mạnh mẽ từ Thiên Chúa. Và Cha đã đáp lại bằng cả cuộc đời mình.
Điều làm nên “ánh sáng” nơi Cha không phải là những công trình bên ngoài, nhưng là đời sống nội tâm. Một con người yêu mến Chúa nồng nàn, hy vọng mãnh liệt vào sức mạnh của cầu nguyện và hy sinh, Cha khiêm tốn nhìn nhận: mọi thành quả đều đến từ Thiên Chúa. Chính vì thế, Cha có thể dấn thân không mệt mỏi, cho đi không tiếc nuối, và yêu thương không giới hạn. Cha từng tâm sự: “Ngày nào ra trước tòa phán xét, tôi chỉ sợ hai điều: một là khi còn sống đã không yêu phép Thánh Thể cho đủ, hai là không hết tình cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục”.
Đức cha Allys - người môn đệ thừa sai đã hiến trọn cuộc đời cho Tin Mừng. Cha không chỉ loan báo Tin Mừng bằng lời nói, nhưng bằng chính cách sống: một trái tim mục tử biết cúi xuống, biết chạm đến những con người bé nhỏ, biết đau với nỗi đau của người khác. Và có lẽ điều sâu sắc nhất Cha để lại không phải là những gì Cha đã làm, mà Cha là một người hoàn toàn thuộc về Chúa, và hoàn toàn thuộc về mọi người như câu châm ngôn “tôi thương mến mọi người”.
Câu Lời Chúa: “Anh em là ánh sáng cho trần gian” vang lên như một lời nhắc nhở trực tiếp. Ánh sáng không cần phải lớn. Chỉ cần là thật. Chỉ cần được thắp lên và rực sáng qua bao giông bão. Ánh sáng của Đức Cha Allys không rực rỡ theo kiểu thế gian. Đó là ánh sáng của sự âm thầm, của những hy sinh không ai thấy, của một đời sống bền bỉ trong yêu thương, của con tim quả cảm và nụ cười không hề tắt. Cha đã viết: “Về phần mình, con không phàn nàn bởi vì con phải công nhận rằng Thiên Chúa cưng chiều con lắm bằng cách để cho con đau khổ về tinh thần và thể xác”. Và chính điều đó đặt ra cho những người con của ngài một câu hỏi rất thật: Tôi đang là ánh sáng như thế nào?
Có thể chúng ta không được sai đến những vùng đất xa xôi. Nhưng chúng ta được sai đến chính nơi mình đang sống: trong cộng đoàn, trong công việc hằng ngày, trong những tương quan rất bình thường. Ánh sáng của chúng ta có thể chỉ là: một lời nói dịu dàng, một thái độ bao dung, một sự trung thành trong bổn phận, một hy sinh âm thầm không ai biết. Nhưng nếu những điều nhỏ bé ấy được thực hiện với trọn tình yêu dành cho Chúa, thì chúng sẽ trở thành ánh sáng thật.
Hôm nay, chúng ta tưởng nhớ về Đức Cha Sáng lập không phải để dừng lại ở sự ngưỡng mộ hay hãnh diện. Nhưng là để được đánh thức. Đánh thức nơi chúng ta một tình yêu có thể còn đang nguội lạnh. Đánh thức nơi chúng ta một ơn gọi có thể đang bị trì hoãn. Đánh thức nơi chúng ta một khát khao sống trọn vẹn hơn cho Chúa. Và đánh thức nơi chúng ta sự dấn thân, biết tìm kiếm phương thức mới để truyền đạt và loan báo Tin Mừng.
Chính Chúa Giêsu đã chỉ đường cho chúng ta: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt lành anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời". Xin cho mỗi người chúng ta không chỉ nhớ đến ánh sáng của Cha Tổ phụ, nhưng dám để ánh sáng ấy tiếp tục cháy lên trong chính cuộc đời mình, hầu mỗi chúng ta ngày càng trở thành người môn đệ “hăng say làm việc trên cánh đồng truyền giáo, can đảm làm chứng cho Nước Chúa ở mọi nơi", để qua những việc tốt lành chúng ta làm, người ta tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng ngự trên trời.
Hát: Tri ân Đấng Sáng lập (giấy)
8. Thinh lặng suy niệm
Xin mời cộng đoàn dành ít phút thinh lặng để suy gẫm:
- Tôi có đang trở thành ánh sáng Tin Mừng trong môi trường sống của mình không?
- Tôi đã và đang tiếp nối tinh thần truyền giáo của Đấng Sáng lập như thế nào?
(Thinh lặng khoảng 1–2 phút, mở nhạc beat bài: “Cha yêu mến mọi người”)
9. Lời cầu (Mời cộng đoàn đứng)
Chúng ta cùng dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện xin.
- Xin Chúa cho Đấng Sáng lập của chúng con được hưởng niềm vui trọn vẹn trong Nước Chúa.
Chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
- Xin cho mỗi chị em trong Hội dòng luôn trung thành sống đặc sủng và cùng nhau thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
- Xin Chúa ban nhiều ơn gọi mới cho Hội dòng để tiếp nối sứ mạng truyền giáo mà Đấng Sáng lập để lại.
Chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
- Xin cho mọi Kitô hữu biết trở nên ánh sáng Tin Mừng giữa thế giới hôm nay.
Chúng con cầu xin Chúa. Xin Chúa nhậm lời chúng con.
10. Lời nguyện kết
Lạy Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót,
Chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Hội dòng chúng con Đức Cha Allys – một người môn đệ thừa sai nhiệt thành.
Xin cho chúng con luôn trung thành với gia sản thiêng liêng Đức Cha để lại và nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, để cuộc đời chúng con cũng trở nên người môn đệ thừa sai như lòng Chúa mong ước.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
11. Tạ Chúa
CĐ. Nhà Mẹ, FMI
Tải file pdf tại đây!