Sự phát triển toàn diện, hướng đến sự hoàn thiện trong Đời sống Thánh hiến
Lấy Đức Kitô làm mẫu gương trong mọi sự, người sống đời thánh hiến sống đời mình theo gương Đức Kitô
Chúng ta đang sống trong một xã hội toàn cầu hóa, một xã hội với những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực: không chỉ công nghệ và kinh tế được toàn cầu hóa, mà cả sự bất an và sợ hãi, tội phạm và bạo lực, bất công và chiến tranh cũng lan rộng. Trong một xã hội như thế, những người sống đời thánh hiến được mời gọi không ngừng hoán cải, để làm mới lại nguồn sinh lực cho chiều kích ngôn sứ của ơn gọi mình, và trở nên nguồn hy vọng mới đầy sức sống cho thế giới. Để điều này trở thành hiện thực, những người sống đời thánh hiến cần được đánh thức bởi khát vọng sống Tin Mừng cách mãnh liệt hơn, hầu mở ra những chân trời mới cho đối thoại và sứ vụ. Điều này rất cần thiết, cho dù đời sống thánh hiến – trong tiến trình phát triển và kinh nghiệm của mình – vốn đã là một chứng tá hùng hồn về một cách hiện diện khác biệt giữa lòng thế giới. Những người sống đời thánh hiến được mời gọi ra khơi vào chỗ nước sâu, như những “người canh gác của bình minh”, những người mạnh mẽ trong đức tin, luôn tỉnh thức và chờ đợi bình minh ló rạng (Giáo hội Công giáo & Thánh Gioan Phaolô II, 1996). Điều này trở nên khả thi nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng từ thuở ban đầu vẫn luôn ở cùng Giáo hội, không ngừng soi sáng, hướng dẫn và tuôn đổ ân sủng cùng sức mạnh của Người, để Giáo hội ngày càng sống Lời Chúa cách mãnh liệt hơn. Tất cả những điều đó đều quy hướng về sứ mạng cứu độ, nhờ đó Giáo hội trở nên dấu chỉ hiệp nhất giữa con người với Thiên Chúa và với nhau.
Người sống đời thánh hiến là ai?
Người nam hay nữ sống đời thánh hiến là người đang bước theo chân Đức Kitô. Trong Giáo hội Công Giáo, những người sống đời thánh hiến là những người nam và nữ khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Dù thuộc về một giáo phận hay một hội dòng, người ấy cũng đón nhận và sống theo niềm tin và những truyền thống của giáo phận hay hội dòng đó (Scarlett & Warren, 2010).
Tông huấn Vita Consecrata – Đời Sống Thánh Hiến đặt trước mặt người sống đời thánh hiến Đức Kitô như trung tâm của đời sống, không chỉ của riêng họ mà của mọi Kitô hữu. Lấy Đức Kitô làm mẫu gương trong mọi sự, người sống đời thánh hiến sống đời mình theo gương Đức Kitô: trong sứ vụ mục vụ cũng như trong giáo huấn về sự thánh thiện, một lời mời gọi đặt ra lý tưởng cao cho đời sống Kitô hữu. Họ được mời gọi nuôi dưỡng một khát vọng sâu xa về đời sống thiêng liêng và cầu nguyện, được thể hiện qua chiêm niệm và lắng nghe Lời Chúa. Đồng thời, đời sống bí tích, linh đạo hiệp thông và chứng tá của tình yêu cũng được diễn tả qua sự sáng tạo trong bác ái, đặc biệt hướng đến những người đau khổ và một thế giới bị tổn thương, đang bị giam hãm trong hận thù. Trong một đất nước như Ấn Độ, điều này còn cần được thực hiện trong tinh thần đối thoại đại kết và liên tôn.
Sự cam kết dấn thân đối với đời sống đã chọn là điều quan trọng nhất. Sự cam kết này là một tiến trình liên tục, dẫn đến việc “không ngừng trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (Giáo hội Công giáo & Đức Giáo hoàng Phanxicô, 2016, tr.3), như được trình bày trong tài liệu Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis. Khi chuyển từ giai đoạn đào tạo này sang giai đoạn khác, người sống đời thánh hiến được mong đợi hoàn thành các nhiệm vụ phát triển của những giai đoạn trước, để có thể đáp lại những thách đố của các giá trị siêu việt và các thái độ sống sẽ được đặt ra ở giai đoạn kế tiếp. Nếu không, sự chú ý và nỗ lực của họ sẽ bị dồn vào việc đối phó với những xung đột nội tâm, sự lệ thuộc (addictions) và những cơ chế phòng vệ. Việc có một động lực đủ mạnh để chọn lựa và duy trì đời sống đã chọn, cũng như sự cam kết giữ các lời khuyên Phúc Âm, là điều rất quan trọng. Việc sống lời cam kết ấy một cách trung tín và biết đối diện với những thách đố mà nó mang lại là điều hết sức cần thiết. Khi Thiên Chúa trở thành trung tâm của đời sống người thánh hiến, thì sự sống của Thiên Chúa dần dần thấm sâu vào chính con người họ. Nhờ đó, họ ý thức sâu sắc hơn về hồng ân ơn gọi thánh hiến cao quý Chúa ban, đồng thời giúp họ biết nương tựa vào Thiên Chúa – theo cách họ cảm nhận về Ngài – trong những lúc khó khăn của cuộc sống.
Những nét đặc trung của người sống đời thánh hiến Công giáo
Một số đặc điểm cần thiết của người sống đời thánh hiến là khả năng tự phản tính đã được phát triển; nghĩa là khả năng tự nhìn lại bản thân cách chân thành, hướng đến việc xét mình về các cuộc gặp gỡ cá nhân, các mối tương quan và những cảm xúc của mình. Đồng thời, họ cần có khả năng tưởng tượng trong cầu nguyện và xét lại đời sống trong bầu khí cầu nguyện, để liên kết mọi hoạt động của mình với cam kết bền vững là mang Chúa đến cho dân Người. Ngoài ra, họ cần có khả năng thiết lập những ranh giới và giới hạn lành mạnh trong các tương quan cá nhân, đồng thời vẫn mở lòng cho sự gần gũi chân thành và quảng đại với người khác. Người sống đời thánh hiến cũng cần có khả năng duy trì sự quân bình lành mạnh giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa dấn thân cho sứ vụ và sự tự do đối với kết quả, giữa việc chăm sóc bản thân và chăm sóc người khác. Đồng thời, họ cần biết tìm kiếm và sử dụng những nguồn trợ giúp cần thiết và hữu ích, đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn. Những kỹ năng khổ chế như từ bỏ bản thân, sống tiết độ và biết làm chủ mình cách khôn ngoan cũng là điều cần thiết.
Người sống đời thánh hiến cần được thúc đẩy bởi lòng khao khát phục vụ con người, chứ không phải bởi sự tán dương của thế gian, bởi vì việc phục vụ con người – chứ không phải danh tiếng trần thế là tiêu chuẩn định hướng đời sống của họ (Malony, 2000). Volanen và cộng sự (2004) nhận thấy rằng những người sống đời thánh hiến có trình độ học vấn và sự chuẩn bị tốt hơn thường có cảm nhận mạnh mẽ hơn về sự nhất quán và ý nghĩa của đời sống. Knox (2005) và Spear (2006) cho thấy rằng những người có nhu cầu giúp đỡ người khác nhiều hơn cũng đạt được mức độ tự thể hiện bản thân cao hơn. Các nghiên cứu của Knox, Virginia, Thull và Lombardo (2005), Trihub, McMinn, Buhrow và Johnson (2010), cũng như Charlton, Rolph, Rolph và Robbins (2009) cho thấy rằng những người sống đời thánh hiến có định hướng ơn gọi rõ ràng, đồng thời có khả năng phục vụ và xây dựng các mối tương quan với người khác, thường ít gặp những căng thẳng tâm lý hơn. Họ được nuôi dưỡng và lớn lên trong việc cử hành các bí tích, trong đời sống cầu nguyện phong phú, và trong việc duy trì sự hiệp thông với anh em linh mục đoàn và các cộng đoàn dân Chúa (Mehl, 1979). Wissing và van Eeden (2002) cũng ghi nhận về mối tương quan gắn kết giữa sự bình an hạnh phúc của người sống đời thánh hiến với các yếu tố như: sức khỏe tâm lý, tương quan cá nhân và liên vị, bối cảnh xã hội, tình yêu thương, công việc và sự nghỉ ngơi giải trí. Vì thế, các chủng sinh, giáo sĩ và tu sĩ khấn dòng có thể duy trì sự khỏe mạnh về thiêng liêng và tâm lý khi họ sống tinh thần tông đồ, xây dựng các mối tương quan và dấn thân cách có ý nghĩa trong sứ vụ (Cassibba & Granqvist, 2008).
Sức khỏe tâm sinh lý của người sống đời thánh hiến được hiểu là “một tiến trình thống nhất toàn bộ lịch sử đời mình, dẫn đến sự gia tăng nhận thức về bản thân và đạt tới hiệu quả tốt nhất trong sứ vụ tông đồ” (Shelton, 1991, tr. 8). Điều đó trở thành chứng tá của sự trưởng thành và những tầm nhìn mới bao gồm tri thức, thấu cảm và sự tự do nội tâm (McKevitt, 2011). Khi tuổi tác tăng lên, người sống đời thánh hiến cần nuôi dưỡng lòng biết ơn, tiếp tục thực thi những việc lành, ý thức về những khát vọng của mình và xác tín về căn tính của mình như một người sống đời thánh hiến (Shelton, 2000). Tình bạn cũng đóng vai trò quan trọng (Conwell, 1980), đặc biệt là tình bạn thiêng liêng (Christiansen, 1995).
Shelton (1991) tóm lược một số đặc nét của sức khỏe tinh thần nơi người sống đời thánh hiến như: đời sống cầu nguyện, tình bạn, các mối tương quan, óc hài hước, ý nghĩa trong công việc thường nhật, sự linh hoạt trong sứ vụ tông đồ, lòng trung thành với lý tưởng, sự gia tăng hiểu biết về bản thân, thái độ khiêm tốn và khả năng sống thinh lặng cô tịch. Đối với những người sống đời thánh hiến lớn tuổi, giai đoạn này vẫn là thời gian tiếp tục đóng góp cho thiện ích chung, bằng cách làm mới lại nhiệt huyết, khám phá những điều mới mẻ, sự sáng tạo trong khả năng hiện tại, điều này rất có ích cho sức khỏe tinh thần của họ (Conwell, 1980).
Sức khỏe tâm lý của chủng sinh, linh mục và tu sĩ khấn dòng
Khi một người nam hay nữ muốn gia nhập một hội dòng quốc tế, dòng địa phận hay một giáo phận, một trong những việc cần làm là bài kiểm tra tâm lý. Ở một số giáo phận, hội dòng và tỉnh dòng, việc này là bắt buộc, trong khi ở những nơi khác thì không. Một ứng viên cần trải qua một bài đánh giá tâm lý trước khi được nhận, vì việc đánh giá này luôn cho thấy một khía cạnh nào đó của con người ứng viên. Tuy nhiên, kết quả đánh giá không nhằm loại trừ ứng viên, mà phải được sử dụng để giúp ứng viên phát triển toàn diện, sau khi đã được nhận vào hội dòng.
Một trong những cách để kiểm tra động lực sống đời sống thánh hiến là thực hiện việc sàng lọc ở những giai đoạn nhất định trong tiến trình đào tạo. Cần lưu ý rằng việc sàng lọc nhằm giúp người đang được đào tạo trưởng thành, chứ không phải để loại bỏ họ. Những thủ tục sàng lọc rất hữu ích vì chúng giúp phát hiện và kịp thời ứng phó với những vấn đề có thể phát sinh sau này. Việc loại trừ chỉ xảy ra khi có những dấu hiệu rõ ràng về các vấn đề nghiêm trọng xảy ra sau đó. McGlone, Ortiz và Karney (2010) nhấn mạnh rằng công tác huấn luyện tại các chủng viện cần bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa trưởng thành thiêng liêng, trưởng thành cảm xúc, khả năng đồng cảm và sự trưởng thành tâm lý – xã hội phù hợp với lứa tuổi.
(Còn tiếp)
Người dịch: Nt. M. Mad Thùy Tiên, FMI
Tác giả: Konrad Noronha SJ, Ph.D. (USA), MS (USA), MTH (Delhi), BHMS (Pune)
(Đăng trong Asian Journal of Vocation and Formation, Tập XXXXIV, số 2, tháng 7–12 năm 2019) Nguồn: https://www.researchgate.net/publication/351102745_FINAL_Integrated_Growth_for_Consecrated_Living