Sự phát triển toàn diện, hướng đến sự hoàn thiện trong đời sống thánh hiến

Cầu nguyện và chiêm niệm bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử liên quan đến những đặc sủng khác nhau, và nơi những người thánh hiến;


(Tiếp theo)

Cầu nguyện và chiêm niệm

Cầu nguyện và chiêm niệm bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử liên quan đến những đặc sủng khác nhau, và nơi những người thánh hiến; nó bao gồm đời sống cộng đoàn và sự quy chiếu luật dòng liên tục. Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người, trong mọi ơn gọi khác nhau, phải thường xuyên dành thời gian thích hợp mỗi ngày để đi sâu vào cuộc đối thoại thinh lặng với Đấng mà họ biết rằng họ được yêu thương để chia sẻ chính đời sống của họ với Ngài và nhận được ánh sáng giúp họ tiếp tục hành trình mỗi ngày. Nên biết rằng, Thánh Thể là nơi đặc biệt để gặp gỡ Chúa. Một linh đạo hiệp thông thì rất cần thiết cho việc chia sẻ niềm vui và đau khổ của anh chị em mình, cho sự cảm nhận những ước mong và đáp ứng những nhu cầu của họ, và trao tặng họ một tình bạn chân thật và sâu sắc. Bởi vậy, đời sống thánh đức và sứ vụ được hình thành trong và qua cộng đoàn. Thêm nữa, những người thánh hiến cũng cần hiệp thông với giáo dân và hàng phẩm trật. Vì đời sống nội tâm của cộng đoàn phải được dịch chuyển từ bình diện cá nhân tới các thực tại khác nhau trong giáo hội.

Cá nhân trong cơ cấu tổ chức

Một tổ chức không thể hoàn chỉnh nếu thiếu yếu tố con người cấu thành nên tổ chức đó. Để được mở mang, tổ chức có trách nhiệm đối với sự phát triển, trưởng thành và tiến bộ của những người làm việc cho nó. Trong bất kỳ tổ chức nào cũng vậy: có người thăng tiến, có người giữ nguyên vị trí, và những người không hoàn thành nhiệm vụ sẽ phải được điều chỉnh hoặc loại bỏ. Đây là chiều hướng quản trị trong việc điều hành một tổ chức, nó giúp tổ chức hoạt động hiệu quả và đạt năng suất cao. Cùng một thể thức ấy, với tư cách là một tổ chức, trong Giáo hội có người thăng tiến, có người hài lòng với hiện trạng, nhưng khi phải giải quyết sự sa sút của một số cá nhân thì các vấn đề thường không được giải quyết cách đầy đủ. Nguyên nhân hiển nhiên là vì tổ chức hoặc không muốn đối diện với vấn đề, hoặc vì những người có trách nhiệm chưa sẵn sàng chấp nhận hậu quả của những vấn đề đó. Tình trạng này xảy ra khi thiếu sự minh bạch trong cách giải quyết vấn đề, hoặc khi phải thiết lập một tiền lệ mà vốn dĩ không ai dám bước qua. Đương nhiên, các quy tắc, giáo lý, tín điều… hết thảy đều có nhưng đôi khi việc thực thi lại còn nhiều thiếu sót, và không đủ sắc bén để phục vụ Giáo hội vì Giáo hội là một tổ chức.

Như vậy, việc chú ý đến cách mỗi cá nhân đáp ứng hoặc không đáp ứng nhu cầu huấn luyện của tổ chức mà họ phải trải qua trong thời gian đào tạo để trở thành linh mục hoặc tu sĩ, cũng như sau khi họ được truyền chức là điều khẩn thiết. Nói đi cũng phải nói lại, việc đào tạo còn bao hàm ý thức trách nhiệm cá nhân - bởi lẽ tổ chức không thể giám sát tất cả, nó chỉ kiểm soát những gì trong phạm vi của nó - trong giai đoạn đào tạo ban đầu đối với người được đào tạo; còn trong giai đoạn đào tạo liên tục, nó được áp dụng cho hàng giáo sĩ. Dẫu vậy, vẫn có nhiều dấu hiệu đáng quan ngại về các lệch lạc trong hành vi, xuất hiện cả trong giai đoạn đào tạo ban đầu lẫn sau này. Một số dấu hiệu như tiền sử bệnh tâm thần, tình trạng nghiện ngập, sự bất thường trong lãnh vực tính dục, tiền sử các hành vi tình dục không lành mạnh, không có khả năng chấm dứt việc sử dụng các nội dung tình dục trực tuyến, và thiếu khả năng duy trì cam kết lâu dài trong công việc hoặc các mối quan hệ. Một số vấn đề dễ nhận thấy khác bao gồm: xu hướng cô lập, thiếu các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa, chưa trưởng thành trong cảm xúc, tính kiểm soát quá độ, xu hướng lý trí hóa hoặc biện minh thái quá, hay phê phán, thiếu linh hoạt, cũng như việc sử dụng những ám chỉ tình dục hoặc ngôn ngữ gợi dục không phù hợp.

Chính vì thế, các cơ sở đào tạo cần đáp ứng nhu cầu huấn luyện cho những nhà đào tạo hiểu rõ các khía cạnh khác nhau trong nhân cách của người thụ huấn bao gồm hàng ngũ linh mục. Cho nên, việc xây dựng một cơ cấu đào tạo vững chắc giúp cho người thụ huấn duy trì sự gắn kết liên lỉ với Đức Kitô, với chính bản thân họ và với các lựa chọn của họ, bằng cách hỗ trợ họ hội nhất những gì đã lãnh nhận được trong suốt quá trình đào tạo và đào tạo liên tục để ơn gọi của họ không ngừng được thăng tiến. Điều này chỉ xảy ra khi người lãnh đạo là người có trách nhiệm, và khi người thụ huấn có ý thức trách nhiệm tự đào tạo. Bằng không, hậu quả sẽ mất rất nhiều thời gian để giải quyết, thậm chí sa thải những linh mục hoặc tu sĩ có vấn đề.

Tín nhiệm là một trong những yếu tố rất cần thiết và quan trọng trong sứ vụ - nghĩa là một linh mục hoặc tu sĩ, trong mọi hoàn cảnh không gian và thời gian, luôn thể hiện tính cách ổn định: khi cử hành phụng vụ trên bàn thờ, khi thăm viếng các gia đình, khi di chuyển trên đường, hay khi làm việc trong văn phòng. Chìa khóa của mối tương quan giữa linh mục hoặc tu sĩ với cộng đoàn tín hữu của họ chính là sự đáng tin cậy. Nếu các linh mục hoặc tu sĩ muốn xây dựng mối tương quan bền vững và toàn diện với dân Chúa, muốn đồng hành với họ trong những hoàn cảnh đặc thù như tội lỗi và sự tha thứ, ân sủng và ơn cứu độ, và niềm hy vọng, thì họ cần phải đặt mình trong mối tương quan đó với mức độ đáng tin cậy cao nhất có thể. Nói chung, tương quan mục vụ phải thực sự là điều được mong đợi – đó là mối tương quan minh bạch và trung thực. Nhờ hiến dâng đời sống độc thân, linh mục hoặc tu sỹ nên ý thức rằng họ sống cho người khác, và người khác có thể tin tưởng vào họ.

Những kỹ năng cần đạt được là nhận thức bản thân rõ ràng, kết nối tốt với cảm xúc của mình, biết đồng cảm, biết tự trọng, có tương quan tốt với bạn cùng trang lứa, biết sống đời độc thân lành mạnh, nhận thức rõ giới tính và tính cách bản thân, biết phân biệt được giữa khát vọng và lý tưởng, biết phân định sự gần gũi và khoảng cách trong các mối quan hệ.

Các kỹ năng cần thiết cho đời sống độc thân

Sống đời linh mục hoặc tu sĩ đòi hỏi những kỹ năng khác với lối sống thế tục. Một trong những kỹ năng quan trọng nhất cho đời sống linh mục là sự dấn thân. Đây là một tiến trình liên tục, và đưa đến sự “liên lỉ nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (Giáo hội Công giáo & Đức Giáo Hoàng Phanxicô, 2017).

Trước khi chủng sinh hoặc tu sĩ bước sang giai đoạn đào tạo tiếp theo, họ cần phải hoàn thành những mục tiêu phát triển ở các giai đoạn trước. Điều này giúp họ có đủ khả năng đối diện những thách thức có giá trị và tư duy cao hơn ở giai đoạn tiếp theo. Nếu không, mọi sự quan tâm và nỗ lực của họ sẽ bị chi phối vào việc đối phó với những trở ngại, các chứng nghiện và những cơ chế phòng vệ của mình. Cái chất để tạo nên và duy trì đời sống linh mục hoặc tu sỹ hệ tại ở động lực ý chí. Nhờ có động lực ý chí mà họ học cách dấn thân tốt hơn, và học cách đối diện với mọi thách thức xảy đến. Những kỹ năng cần có để phát huy nhận thức bản thân như là: sự phản tỉnh trung thực dựa trên việc đối diện với bản thân trong đó các mối quan hệ và cảm xúc; khả năng cảm thụ vẻ đẹp sâu xa trong đời sống cầu nguyện giúp gắn kết mọi hoạt động của bản thân với sự dấn thân bền vững để mang Chúa đến cho dân Người; khả năng thiết lập giới hạn bản thân trong các mối quan hệ nhưng vẫn công nhận sự thân thiết chân thành và lòng bao dung người khác; khả năng duy trì sự cân bằng lành mạnh giữa công việc và vui chơi, giữa dấn thân trong sứ vụ và sự buông bỏ thành quả có được trong sứ vụ, giữa chăm sóc bản thân và quan tâm người khác; học cách tìm kiếm nguồn hỗ trợ cần thiết đặc biệt trong những hoàn cảnh khó khăn; các kỹ năng khổ chế như từ bỏ bản thân, tiết độ và chế ngự sáng suốt trong cách ăn uống, trong việc sử dụng của cải vật chất, trong hoạt động trực tuyến và các hình thức giải trí khác.

Cộng đoàn nâng đỡ

Ngoài những yếu tố và năng lực đã được đề cập, người được mời gọi bước theo ơn gọi linh mục hoặc đời sống thánh hiến còn cần đến sự nâng đỡ thiết yếu của một cộng đoàn. Điều quan trọng cần lưu ý là một cộng đoàn nâng đỡ không chỉ hỗ trợ và khích lệ mà đôi khi còn đặt ra những đòi hỏi và thách thức cần thiết trong trường hợp này, những hình thái cộng đoàn khác nhau góp phần vào đời sống của chủng sinh, linh mục hoặc tu sĩ cách phong phú. Một số ví dụ điển hình như (1) dân Thiên Chúa trong Giáo hội, đặc biệt là cộng đoàn mà linh mục hoặc tu sĩ phục vụ, (2) các linh mục và tu sĩ khác, cùng với giám mục hoặc bề trên – họ như những người anh em, chị em, bậc cha mẹ đối với vị linh mục, tu sĩ, (3) mối tương quan đặc biệt với vị linh hướng hoặc cha giải tội tạo nên một hình thức cộng đoàn bảo trợ độc đáo, (4) nhóm cầu nguyện hoặc nhóm nâng đỡ, (5) trong lãnh vực cá nhân gồm bạn bè và gia đình. Vì lẽ đó, các linh mục và tu sĩ được đào tạo trong giai đoạn đào tạo ban đầu rất cần được đào tạo liên tục trong suốt những năm tháng thực thi sứ vụ sau này. Đây chính là quá trình giúp cho sự dấn thân mỗi ngày thêm sống động. Kết quả là khi tiến trình đào tạo được triển khai đầy đủ, các linh mục và tu sĩ sẽ: (1) có lý do vững chắc cho lựa chọn đời sống của mình, (2) có những kỹ năng cần thiết để sống ơn gọi cách tốt đẹp, và (3) có một cộng đoàn nâng đỡ bảo vệ đời sống của họ.

Kết Luận

Ý thức trách nhiệm cá nhân và khả năng chủ động đáp ứng những đòi hỏi của tiến trình đào luyện chỉ có thể được phát triển cách đích thực khi các nguyên nhân gốc rễ được nhận diện và giải quyết cách thỏa đáng. Nếu những người thi hành sứ vụ đào tạo và các vị lãnh đạo trong Hội Thánh không đưa ra những phương thế thích hợp, tương xứng với mức độ phức tạp của các vấn đề, thì những phản ứng, dù với thiện chí, vẫn có nguy cơ dẫn đến những hệ quả trái ngược với mục tiêu mong muốn. Việc phải xử lý những hệ quả phát sinh từ hành vi của một linh mục hay tu sĩ trong các giai đoạn sau này thường cho thấy rằng các nguyên nhân căn bản đã không được giải quyết cách đầy đủ ngay từ thời kỳ đào tạo ban đầu, và theo thời gian đã trở nên trầm trọng hơn. Khi những vấn đề ấy bộc lộ trong đời sống cộng đoàn, chúng dễ gây nên sự bối rối và hoang mang nơi các tín hữu. Từ đó, không ít người bị lay chuyển trong niềm tin, thậm chí dẫn đến việc xa rời sự hiệp thông với Hội Thánh.

Các nhà lãnh đạo Giáo hội nên lắng nghe bằng đời sống cầu nguyện chân thành để thấu hiểu được dấu chỉ của thời đại. Bởi lẽ những giải pháp nông cạn hoặc những lời sáo rỗng sẽ chỉ khiến nhiều người công giáo mỗi ngày một xa rời Giáo hội. Sự sống còn của Giáo hội cần được thực hiện với sự trung thành sáng tạo. Điều cần thiết là những hành động mang tính mạnh mẽ và biểu tượng, được thực thi trong tinh thần khiêm nhường sâu xa và minh bạch trọn vẹn, hầu có thể mở ra hy vọng đảo ngược tiến trình suy thoái và ngăn chặn nguy cơ đi đến đổ vỡ. Cần phải biểu lộ một sự gia tăng phong phú các sáng kiến trong chính đời sống của những người sống đời thánh hiến, đồng thời tích cực tham gia vào các sáng kiến ấy. Việc cộng tác với những người trực tiếp đảm nhận và thực thi các giải pháp sẽ gia tăng khả năng tạo nên những biến chuyển thực sự. Điều này có thể được thể hiện qua cầu nguyện, giáo dục và hành động cụ thể. Những đặc sủng riêng biệt của Thánh Thần, việc chuyên chăm lắng nghe Lời Chúa, thực hành liên lỉ tiến trình phân định, cùng với kho tàng phong phú của truyền thống sư phạm đã được tích lũy từ khi các hội dòng được thiết lập trong lòng Hội Thánh, tất cả trở thành lời nhắc nhở sống động về hoạt động không ngừng của Thiên Chúa

Nền văn hóa giáo sĩ mang tính đặc quyền, quyền lực, khép kín và tự bảo vệ cần được canh tân, để trở nên cởi mở và minh bạch hơn. Nhờ đó, những cuộc đối thoại mang tính bao dung và hiệp thông được khơi mở, đồng thời công lý mang tính hàn gắn được thực thi. Chính trong tiến trình này, mối tương quan với các mục tử được tái lập, và các tín hữu được mời gọi tái cam kết với một Hội Thánh đích thực là Dân Thiên Chúa. Tương lai của đời sống thánh hiến và sứ mạng của nó phần lớn tùy thuộc vào chứng tá sống động của những người thánh hiến, vào những thái độ mà họ vui tươi đón nhận, cũng như vào sự vâng phục nội tâm (dolicity) trước điều Thánh Thần muốn ngỏ với họ.

Người dịch: Nt. M. Mad Thùy Tiên, FMI

Tác giả: Konrad Noronha SJ, Ph.D. (USA), MS (USA), MTH (Delhi), BHMS (Pune)
(Đăng trong Asian Journal of Vocation and Formation, Tập XXXXIV, số 2, tháng 7–12 năm 2019) Nguồn:https://www.researchgate.net/publication/351102745_FINAL_Integrated_Growth_for_Consecrated_Living

(Hết)