Hoán cải mục vụ cho những thực hành đạo đức tôn kính Đức Maria tại Việt Nam
Lòng tôn kính Đức Maria là một phần quan trọng trong đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam. Nếu được đồng hành và hướng dẫn đúng đắn, lòng đạo đức bình dân này sẽ trở thành một nguồn sức mạnh thiêng liêng...
Trong đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam, lòng tôn kính Đức Trinh Nữ Maria chiếm một vị trí vô cùng đặc biệt. Từ các buổi đọc kinh Mân Côi trong gia đình, các buổi rước kiệu, tháng Hoa dâng Mẹ, cho đến những cuộc hành hương về linh địa La Vang, Trà Kiệu, Tà Pao…, lòng đạo đức bình dân kính Đức Mẹ đã trở nên một phần không thể thiếu trong đời sống người Kitô hữu nơi mảnh đất quê hương chúng ta.

Tuy nhiên, trong khi khẳng định giá trị và sự phong phú của những thực hành này, chúng ta cũng không thể phủ nhận xảy ra một số giới hạn: đôi khi có những biểu hiện nghiêng về hình thức, nặng tính xin ơn phần xác, hoặc pha trộn với các yếu tố mê tín. Trước bối cảnh ấy, lời mời gọi “hoán cải mục vụ” mà Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh trong Evangelii Gaudium (số 25–33) trở nên đặc biệt cấp thiết, để việc tôn kính Đức Maria thực sự trở thành một con đường dẫn tới Đức Kitô[1] và một phương thế loan báo Tin Mừng trong bối cảnh Việt Nam hôm nay.
1. Thực trạng và giá trị của lòng đạo đức bình dân kính Đức Mẹ
Ai đã từng một lần tham dự các Đại hội Thánh mẫu ở Việt Nam hay do người Việt Nam tổ chức[2] chắc hẳn đều có cùng một cảm nghiệm về sự phong phú và lòng đạo đức yêu mến Đức Trinh Nữ Maria một cách sốt mến trong đời sống Kitô hữu Việt Nam. Chúng ta phải thừa nhận rằng các hình thức đạo đức bình dân tôn kính Đức Mẹ tại Việt Nam rất đa dạng: lần hạt Mân Côi, tháng Hoa, rước kiệu, hành hương, và các hội đoàn mang linh đạo Thánh Mẫu (Legio, Mân côi,...). Những thực hành ấy diễn tả một đức tin sống động, gần gũi, gắn bó với đời sống thường ngày.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhìn nhận rằng: “Lòng đạo đức bình dân như là kết quả của Tin Mừng hội nhập trong văn hóa, là một sức mạnh Phúc Âm hóa tích cực mà chúng ta không được coi nhẹ”[3]. Quả thật, lòng đạo đức bình dân nơi người Việt Nam đã trở thành mảnh đất phì nhiêu để hạt giống Tin Mừng bén rễ và trổ sinh hoa trái. Từ những giờ kinh trong gia đình, nhiều thế hệ đã lớn lên trong đức tin, gắn bó với Hội Thánh và dấn thân phục vụ tha nhân.
Tuy vậy, đôi khi chúng ta cũng thấy việc tôn kính Đức Mẹ bị tách rời khỏi phụng vụ và đời sống bí tích; hoặc hình ảnh Mẹ Maria bị “thay thế” cho Đức Kitô như một trung gian độc lập, thay vì là người dẫn đưa ta đến với Con của Mẹ[4]. Đây là những thách đố mục vụ mà người viết cũng muốn khơi lên trong lòng bạn đọc một chút suy tư mục vụ: Làm sao để nâng đỡ và thanh luyện những thực hành đạo đức bình dân tôn kính Đức Mẹ tại Việt Nam hầu chúng trở thành cơ hội loan báo Tin Mừng?
2. Nền tảng Thần học và Giáo huấn của Giáo hội
Giáo hội đã nhiều lần nhấn mạnh đến giá trị và sự cần thiết phải thanh luyện lòng đạo đức bình dân. Thánh Giáo hoàng Phaolô VI trong Tông huấn Marialis Cultus (1974) đã chỉ rõ về bốn phương diện của lòng tôn kính Đức Maria[5] là Thánh Kinh, Phụng vụ, Đại kết và Nhân bản hầu làm nổi bật mối dây liên kết giữa chúng ta với Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ chúng ta trong sự hiệp thông chư thánh được sống động và dễ hiểu hơn[6]. Vì thế mà mọi hình thức phượng tự đều phải được định hướng theo Kinh Thánh, đây là đòi hỏi chung cho lòng đạo đức Kitô giáo. Thứ đến là những thực hành đạo đức này phải hòa hợp với Phụng vụ chứ không được lẫn lộn với Phụng vụ[7]. Đồng thời lòng tôn kính Đức Maria một cách chân chính phải là con đường dẫn đến Đức Kitô, nguồn mạch và sự hiệp thông của Giáo hội. Đó là ưu tư khẩn thiết về việc tái lập sự hợp nhất giữa các Kitô hữu[8] và cũng là mong ước đại kết mà Tông huấn Marialis Cultus muốn đề cập đến. Nhờ những hướng dẫn của Giáo hội giúp chúng ta phân định đâu là hình thức đạo đức chân chính, đâu là những lối thực hành cần được uốn nắn.
Tông huấn Evangelii Nuntiandi số 48 cũng mời gọi thái độ mục vụ đúng đắn: không loại bỏ lòng đạo đức bình dân, nhưng biết tôn trọng – phân định – thăng hoa:
Đạo đức bình dân nếu được hướng dẫn tốt, nhất là nhờ khoa sự phạm Phúc Âm hóa, nó lại có nhiều gía trị phong phú. Nó biểu lộ một sự khao khát Thiên Chúa mà chỉ có những kẻ đơn sơ và nghèo khó mới có thể nhận biết được. Khi cần bày tỏ lòng tin nó có thể khiến người ta sống quảng đại và hy sinh đến mức độ anh hùng. Nó bao hàm một cảm thức sâu xa về những phẩm tính siêu việt của Thiên Chúa: Tình phụ tử, sự quan phòng, sự hiện diện yêu thương và bền vững của Người. Nó phát sinh những thái độ nội tâm khó thấy ở nơi khác cùng một mức độ: Sự kiên nhẫn, ý thức về thánh giá trong cuộc sống thường nhật, sự từ bỏ, sự hướng mở đến người khác, lòng sùng đạo. Vì những khía cạnh này, Ta sẵn sàng gọi chúng là “đạo đức bình dân” nghĩa là đạo của người bình dân hơn là đạo tình cảm[9].
Như vậy, sứ mạng mục vụ không phải dập tắt một “ngọn lửa” vốn nuôi dưỡng đức tin, nhưng là thổi bùng lên để ánh sáng ấy rực rỡ hơn trong đời sống Giáo hội.
3. Những định hướng cho việc hoán cải mục vụ
Trong vai trò là một tu sĩ, có một thời gian ngắn trải nghiệm đời sống mục vụ tại các giáo xứ, xin gợi lên đây một vài ý tưởng để có thể khuyến khích và nâng cao đời sống đức tin của người giáo dân qua những thực hành đạo đức bình dân. Đó là cần đổi mới cái nhìn mục vụ, gắn kết thực hành đạo đức với đời sống Kitô hữu, cổ võ tinh thần yêu mến Đức Maria cách đích thực. Thật vậy, chúng ta cần tránh hai thái cực: hoặc khinh thường lòng đạo đức bình dân, hoặc phó mặc không hướng dẫn. Hoán cải mục vụ mời gọi chúng ta bước vào con đường đồng hành, giáo dục và hội nhập. Thêm vào đó, lòng tôn kính Đức Mẹ phải được nối kết mật thiết với phụng vụ, với Lời Chúa và với sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Ngoài ra cần hướng dẫn cho giáo dân hiểu rằng giờ đọc kinh Mân Côi không chỉ là lặp lại công thức, nhưng phải trở thành suy niệm Tin Mừng cùng với Mẹ Maria. Các buổi rước kiệu, tháng Hoa, hành hương cần được canh tân, mang chiều kích Kitô học và truyền giáo rõ rệt hơn. Các hội đoàn Thánh Mẫu phải trở thành môi trường huấn luyện đức tin, khơi dậy tinh thần phục vụ và dấn thân trong Giáo hội.
Đức Maria không phải là cùng đích, nhưng là mẫu gương tuyệt hảo của người môn đệ Đức Kitô: người biết lắng nghe, ghi nhớ và thực hành Lời Chúa (x. Lc 1,38; 2,19). Chính nơi Mẹ, Hội Thánh học biết thái độ vâng phục và tin tưởng, để dấn bước trên con đường thánh thiện.
Qua đó vai trò của người tu sĩ là cần làm gương sáng trong cách thực hành lòng tôn kính Đức Mẹ cách trưởng thành, tránh những hình thức hời hợt. Đồng thời, cần cung cấp nền tảng thần học đúng đắn để giúp cộng đoàn hiểu rằng: việc tôn kính Mẹ Maria không bao giờ tách rời khỏi việc yêu mến và gắn bó với Đức Kitô.
Tạm kết
Lòng tôn kính Đức Maria là một phần quan trọng trong đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam. Nếu được đồng hành và hướng dẫn đúng đắn, lòng đạo đức bình dân này sẽ trở thành một nguồn sức mạnh thiêng liêng, như là một phương tiện loan báo Tin Mừng hữu hiệu.
Hoán cải mục vụ về lòng đạo đức bình dân cách đúng đắn chính là con đường giúp chúng ta đi từ những hình thức bên ngoài đến chiều sâu nội tâm, từ niềm tin cảm tính đến một đức tin trưởng thành và hiệp thông trong Hội Thánh. Như lời Đức Thánh Cha Phanxicô: “Mọi hình thức đạo đức bình dân, nếu được hướng dẫn tốt, sẽ luôn có một chiều kích truyền giáo”[10].
Ước gì, nhờ sự đồng hành của Giáo hội và sự nâng đỡ của Mẹ Maria, lòng đạo đức bình dân của con dân Việt Nam ngày càng được thanh luyện và thăng hoa, để trở thành một con đường nên thánh và loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay.
M. Anna Lê Thị An Bình, FMI
[1] Ad Jesum per Mariam
[2] Ví dụ như Đại hội Thánh Mẫu tại Missouri, Hoa Kỳ được tổ chức hằng năm vào tháng 7.
[3] Evangelii Gaudium 126
[4] x. Lumen Gentium 62
[5] Tông huấn Marialis Cultus 29-39
[6]x.MC 29
[7]x. MC 31
[8] x. MC 32, 33
[9] Tông huấn Evangelii Nuntiandi 48
[10] Evangelii Gaudium 126