Các yếu tố quan trọng của việc đồng hành huấn luyện...(tt)
Huấn luyện đời sống thiêng liêng, liên quan đến việc đào luyện động cơ ơn gọi, phân định thiêng liêng và các giá trị của đời sống tu trì...
Xem phần trước tại đây!

2. Huấn Luyện Đời Sống Tâm Linh
Bổn phận đầu tiên và chính yếu của tu sĩ là chuyên cần kết hợp với Thiên Chúa trong cầu nguyện, chiêm niệm các mầu nhiệm của Thiên Chúa.[1] Để thống nhất đời sống trong Chúa Kittô, trong quá trình ứng sinh trải qua tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành, thì việc được hướng dẫn, làm cho lớn lên về đàng thiêng liêng của các ứng sinh cũng cần được thúc đẩy mạnh mẽ để “làm cho các tu sĩ có kinh nghiệm dồi dào về Thiên Chúa và giúp họ kiện toàn một cách tiệm tiến những kinh nghiệm ấy trong đời sống của họ.”[2] Nhiệm vụ của các nhà đào tạo là hướng dẫn ứng sinh đến được với Đức Kitô, giúp họ cảm nghiệm được Thiên Chúa và ân sủng của Ngài trong những biến cố của cuộc sống hằng ngày. Huấn luyện đời sống thiêng liêng, liên quan đến việc đào luyện động cơ ơn gọi, phân định thiêng liêng và các giá trị của đời sống tu trì, giúp đào sâu kinh nghiệm về Thiên Chúa, vì thiếu kinh nghiệm thiết thân với Thiên Chúa, đời tu sẽ không có nền tảng vững vàng. Giúp nội tâm hóa các giá trị của đời tu như Tin Mừng, Ba Lời Khấn, đặc sủng, căn tính, sứ mạng, và việc tông đồ đặc thù của Nhà Dòng. Đọc, học Kinh Thánh, các phương pháp cầu nguyện, chiêm niệm khác nhau từ các thánh và những người có kinh nghiệm để ứng sinh thực sự “bén rễ sâu và xây dựng đời mình trên nền tảng là Đức Giêsu Kitô.”[3]
a. Phân định thiêng liêng
Là lời mời gọi của Thiên Chúa khởi điểm từ sự thúc đẩy, hành trình tìm hiểu ơn gọi, những biến chuyển chứ không phải là những biến cố. Cho các em hiểu, bản chất của đời tu là tôi trao cuộc đời của tôi cho Chúa để Chúa trao cuộc đời tôi cho người khác (Self gift). Tìm hiểu xem ứng sinh có bị chi phối bởi những nhu cầu vô thức nào, với những giá trị của họ là gì? Là những động lực ko thích hợp nào: đi tìm lợi ích bản thân, dễ càm ràm, không nhận diện ra động lực? Hay động lực ko thỏa đáng: vừa có muốn dấn thân cho Chúa, vừa có tính vụ lợi, trao đổi, hay thích đáng và đúng đắn? Tình yêu dành cho Chúa và dấn thân phục vụ tha nhân. Trong đồng hành phân định ơn gọi, tránh vội vàng đóng khung động lực ơn gọi của một người, nhận thức rõ động lực ơn gọi của ứng sinh nhằm giúp thanh lọc động lực, giúp họ chuyển đến ơn gọi thích hợp. Cần một tiến trình thanh lọc và làm cho động lực này lớn lên. Hiểu biết đúng đắn về bản chất đời tu, hôn nhân gia đình và phát triền về đời sống thiêng liêng
Sau một thời gian cùng phân định có thể xảy ra các tình huống sau: cả hai cùng thấy hành trình phân định diễn ra tốt đẹp, hoặc ứng sinh cảm thấy bối rối, nghi ngờ về ơn gọi mình đang tìm hiểu, cho nên, không vội vàng giải thích và đưa ra kết luận. Điều cần thiết là, cần dừng lại để tìm hiểu. Đồng thời, cũng mời gọi người thụ huấn cùng tìm hiểu xem điều đó có ý nghĩa gì? Nhắc cho họ kinh nghiệm họ đã trải qua, đối thoại trong bầu khí phân định thiêng liêng hướng đến sự trưởng thành và tự do trong ơn gọi của của ứng sinh và hy vọng, trước mặt Chúa, ứng sinh tìm được câu trả lời cho chính họ.
Khi người đào tạo cảm thấy bối rối/ nghi ngờ về ơn gọi của ứng sinh cũng không nên vội vàng giải thích và đưa ra kết luận, tránh chủ động, áp lực đòi hỏi ứng sinh phải điều chỉnh. Nhưng là trao đổi với ứng sinh về tình trạng của họ; đối thoại với họ trong bầu khí phân định thiêng liêng để giúp ứng sinh đạt đến sự trưởng thành và tự do hơn trong ơn gọi của mình.
Yếu tố quan trọng trong đồng hành huấn luyện mà cũng cần để ý đến rất nhiều trong đời sống tu trì đó là việc đào tạo nhân bản, cách đối nhân xử thế, sống tử tế con người tự nhiên là nền tảng để vươn tới sự triển nở trong đời sống thiêng liêng.
b. Đồng hành thiêng liêng
Theo cha Minh Huy, ĐHTL rất cần thiết ngay từ giai đoạn đầu của chương trình huấn luyện, phục vụ cho tất cả mọi người. Nó như luồng sáng bừng lên và chiếu rọi vào kinh nghiệm bóng tối của những ai đang trải qua. [4] Ngoài ra, đồng hành thiêng liêng mang tính thánh thiêng, là một hành trình đức tin, là một hành động mang tính trải nghiệm của con người. [5] ĐHTL có vai trò lớn lao trong những quyết định quan trọng vì Thiên Chúa thường nói với chúng ta và hướng dẫn chúng ta trên hành trình đức tin qua các vị linh hướng.
ĐHTL cũng hết sức cần thiết đối với huấn sinh để thích nghi được với môi trường sứ vụ, như là “rượu mới trong bầu da mới (Mc 2,22)”, trong một thế giới hiện đại nhưng cũng đầy phức tạp. Nói cách khác, ĐHTL tiếp tục giúp chúng ta tỉnh táo nhận ra những giới hạn và sự mỏng dòn của “bầu da” của bản thân đã cản trở quá trình của sự làm chứng tá đáng tin cậy và chân thực cho “rượu mới” của Tin Mừng. [6] Tuy nhiên, điều vô cùng đặc biệt là ĐHTL không chỉ chú trọng vào sự tha thứ mà còn cả sự chữa lành khi mà vết thương được mở ra, nỗi đau được chia sẻ, và khi mà cả vị linh hướng và người thụ hướng cảm thấy sự cần thiết cho việc chữa lành tâm linh.[7]
c. Những kỹ năng cần cho vị đồng hành
- Vị linh hướng
Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng đây không phải là một công việc dễ dàng. Một vị linh hướng được huấn luyện là một người biết lắng nghe cách sâu sắc và sáng tạo. Người đó sẽ hoàn thành trách vụ của mình trong tinh thần hiệp thông với toàn thể Giáo hội và điều này rất quan trọng.[8] Thực ra, vai trò của vị linh hướng không phải là chỉ dạy, khuyên bảo, xét xử, chỉ dẫn, quyết định nhưng là nêu lên những câu hỏi giúp người thụ hướng hiểu rõ những kinh nghiệm của mình và tìm ra ý nghĩa qua những kinh nghiệm đó; khi vị linh hướng thấy cần thì có thể gợi thêm và lưu ý những gì đang diễn ra trong đời sống của người thụ hướng, có khi thì động viên. Thánh Phanxico de Salesio là một vị linh hướng mẫu mực được nhiều tâm hồn tin cậy khi thấy tình yêu nồng nhiệt của ngài đối với Thiên Chúa và tha nhân, thái độ của ngài đối với mọi người rất lạc quan, và luôn dùng lời lẽ khôn ngoan của mình để mời gọi họ nuôi dưỡng những gì đã được gieo trong lòng những người đến với ngài.[9] Nói cách sâu xa, thánh nhân giúp họ phát triển những phẩm chất và căn tính mà Chúa đã ươm trồng nơi họ. Do vậy, vị linh hướng phải có sự gắn bó mật thiết với Thiên Chúa và tương quan tốt với mọi người, biết trau dồi những kinh nghiệm vui buồn trong cuộc sống và thể hiện cái tôi đích thực của mình.
- Thiết lập sự định hướng
Sự định hướng về ĐHTL rất quan trọng để khuyến khích và trau dồi cho người được đồng hành những kiến thức về ĐHTL, lợi ích và việc thực hành ĐHTL đúng theo sự mong muốn của Giáo hội và các nhà thần học ngày nay: Đây là tất cả những gì ĐHTL là và những gì ĐHTL không phải là. Nói một cách ngắn gọn, ĐHTL là lắng nghe, là đồng hành, là yêu thương, là chính con người. Nó không phải là việc chịu trách nhiệm về cuộc sống của người khác, cũng không phải là giải quyết vấn đề hay cung cấp cho người thụ hướng những kinh nghiệm lớn lao, sự khôn ngoan và sự thánh thiện biến họ trở thành một người khác.[10] Đó là một cơ hội để cổ võ và giúp người tìm đến với các vị đồng hành và tự tin thực hành ĐHTL.
- Cầu nguyện - Tâm điểm của ĐHTL
Cầu nguyện là điểm mấu chốt của ĐHTL. Cầu nguyện vừa quan trọng vừa mang tính thống nhất và là cách tốt nhất để đi vào cuộc gặp gỡ thân tình với Chúa. Không cầu nguyện, cuộc hành trình của chúng ta đi khám phá nơi sâu thẳm nhất của bản thân không thể đạt đến được. Trong cầu nguyện, chúng ta dành thời gian bên Chúa, với Mẹ Maria và các thánh qua việc mở lòng ra đón nhận tình yêu của Ngài, nhìn lên Mẹ như là dấu chỉ của niềm hy vọng qua đời sống và việc nguyện cầu của Mẹ, [11] đồng thời noi theo mẫu gương các thánh về đời sống thánh thiện để chúng ta có thể lắng nghe được tiếng Chúa gọi trong mỗi giây phút của cuộc đời để được biến đổi. Vị linh hướng hướng dẫn những ai tìm kiếm và muốn tiến xa hơn trong cầu nguyện, như chỉ dạy về cầu nguyện cùng với việc giới thiệu những cách cầu nguyện theo truyền thống Công giáo. Ngay trong những buổi gặp gỡ của ĐHTL, vị linh hướng có thể áp dụng những cách cầu nguyện thiết thực, qua đó đáp ứng được nhu cầu cũng như lòng khao khát của người được đồng hành. Cụ thể hơn, căn phòng nơi diễn ra ĐHTL của vị đồng hành phải luôn phảng phất bầu khí cầu nguyện: một cái bàn nhỏ hay một không gian ở trung tâm có đặt một quyển Thánh Kinh và ngọn nến. [12] Như thế, cả vị đồng hành và người được đồng hành đều được nhắc nhở rằng họ đang ở trước sự hiện diện của Chúa và ý thức Chúa Thánh Thần mới là vị linh hướng thực sự. Bên cạnh đó, tác giả cuốn sách “Sự thánh thiêng là lời mời gọi: Hình thành và biến đổi trong chương trình ĐHTL” khẳng định rằng “Những ai được huấn luyện để trở thành vị linh hướng sẽ trở nên quen thuộc với nhiều kiểu mẫu cầu nguyện khác nhau. [13]
- Sự phân định
“Phân định xuất hiện như một trong những quá trình cơ bản nhất của sự hiểu biết của con người, hoàn cảnh thực tế rõ ràng, nằm trong phạm vi tư tưởng.” [14] Phân định là quà tặng của Thiên Chúa và đồng thời là tập quán của đức tin. Tuy nhiên, tất cả đều là hồng ân. Hành động của con người đóng vai trò quan trọng trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa. [15] Khi phân định, vị đồng hành dùng món quà đó để giúp người được đồng hành chú ý tới khát vọng của họ, những xung khắc xảy ra trong kinh nghiệm của chính họ, rút ra những biến chuyển bên trong và khám phá chúng một cách sâu xa hơn trước khi có những xét đoán vội vàng về họ. Vị đồng hành giúp người được đồng hành đặt tên cho những chuyển động khác nhau và đánh giá những biến chuyển bên trong như là những hoa trái của Thánh Thần và trong mối tương quan với Chúa. [16] Thế rồi vị đồng hành giúp người được đồng hành đi đến quyết định nhưng vẫn tôn trọng sự tự do của người được đồng hành. Phân định trong ĐHTL là một quá trình thúc đẩy cá nhân đi vào trong mối thân tình với Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện và hoạt động trong mọi hoàn cảnh và nhờ đó tìm được chính mình.
Theo thánh Ignatio Loyola và các vị khác viết về phân định, ĐHTL rất hữu ích giúp ta chắc chắn rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, tiếp tục hướng dẫn chúng ta trong tình yêu, và mời gọi chúng ta tháp nhập vào tình yêu của Ngài và chia sẻ tình yêu đó cho tha nhân. [17] Mặt khác, biện phân khi cầu nguyện sinh nhiều hoa trái, và trong cộng đoàn, nó hướng người môn đệ tới “sự mạo hiểm để bước theo Đức Giêsu trong những hoàn cảnh thay đổi và mới mẻ.” [18] Ngoài ra, một lý do quan trọng khác cho ĐHTL và phân định ngày hôm nay là bối cảnh đa văn hóa.[19] Do đó, khi vị đồng hành đồng hành với người được đồng hành, vị đó không chỉ lắng nghe con người của người được đồng hành mà cả những nét văn hóa của người đó. Nhờ vậy, quá trình phân định sẽ hoàn thành và hiệu quả hơn.
- Nhìn lại và nhận định sau mỗi lần gặp gỡ của vị đồng hành
Vị đồng hành trước hết cần phải ý thức rằng mình làm việc này trước sự hiện diện và hồng ân của Thiên Chúa Ba Ngôi. Họ cần tạ ơn và cầu xin cho những gì mình đang tìm kiếm và ước vọng trở thành vị đồng hành đúng nghĩa và đúng ý Chúa hơn. Người đó cần nhớ lại buổi đồng hành gần đây mà mình hướng dẫn cho một người được đồng hành, và tự hỏi bản thân: Tôi đã tiếp đón người được đồng hành cách chu đáo chưa? Tôi có thực sự lắng nghe những gì người được đồng hành chia sẻ không? Tôi có nhận ra sự bất nhất giữa lời nói và tác động? Tôi có đóng khung ý tưởng hay cảm giác của riêng tôi? Tôi đã tạo ra được một không gian an toàn và đáng tin cậy chưa? Với nhận thức mới, vị đồng hành thưa lên với Chúa, tiếp tục tìm kiếm sự hiểu biết và rút ra ý nghĩa, bài học kinh nghiệm qua lần gặp gỡ và kết thúc bằng lời nguyện tạ ơn.
- Sự hiện diện, sự lắng nghe thánh thiêng và bớt lời[20]
ĐHTL là lắng nghe Chúa qua những hình ảnh và câu chuyện của người được đồng hành. Mục đích của ĐHTL là làm sống động sự hiện diện của Thiên Chúa và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời của người được đồng hành qua các lần đồng hành. Vì thế, vị đồng hành phải toàn tâm lắng nghe và chỉ nói ít lời. Mặt khác, vị đồng hành sẽ không thể nghe được người được đồng hành nếu bị lo ra chia trí hay bận tâm bởi một điều gì khác. Vị đồng hành cần có sự bình thản, trầm lặng, và tâm trí sẵn sàng để lĩnh hội những gì người được đồng hành chia sẻ.[21] Vì khi chú ý lắng nghe, vị đồng hành sẽ biết được sự biến chuyển của người được đồng hành qua những câu chuyện họ kể. Vị linh hướng còn cần phải biết lắng nghe với sự thấu cảm, cởi mở, ý thức và tránh cản trở việc lắng nghe.
- Sự tín nhiệm và cẩn mật
Có nhiều lý do khiến cho các chị em VKT của Hội dòng CĐMVN ngần ngại và ít hăng hái trong việc thực hành ĐHTL: một trong những lý do đó là thiếu sự tín nhiệm vào các vị đồng hành (15%); Sự tín cẩn trong ĐHTL là việc giữ bí mật những điều mà người được đồng hành tin cậy chia sẻ với vị đồng hành. Các vị đồng hành cần phải giữ cẩn mật những điều riêng tư của người được đồng hành để bảo vệ phẩm giá của họ. Vị đồng hành cũng cần giữ bí mật từ mọi phương diện: ngôn từ, điện tử, và ghi chép cùng với việc thực hiện ĐHTL trong một khung cảnh phù hợp. Tuy nhiên, có một vài trường hợp ngoại lệ hợp pháp cần phải được tiết lộ cho thẩm quyền hợp pháp, chẳng hạn như lạm dụng trẻ em và người cao niên gây hại về thể lý cho chính bản thân và cho người khác.[22]
“Một người được tín nhiệm là người đáng tin cậy, có trách nhiệm, và hoàn toàn đặt niềm tin tưởng được.”[23] Do vậy, một vị đồng hành đáng tin cậy thì được người được đồng hành cảm thấy tin tưởng khi chia sẻ những câu chuyện của cuộc đời họ, vị đồng hành không xét đoán cũng không kết án, là người hiểu và giữ sự cẩn mật.
- Việc ghi chép
Theo tài liệu của trung tâm linh thao Ignatian Philippines và trung tâm Emmaus, việc ghi chép là cách giúp vị đồng hành lưu giữ các thông tin về lai lịch và hoàn cảnh của người được đồng hành, những điểm quan trọng trong buổi đồng hành, những phản ứng, suy niệm của vị đồng hành và những bài học kinh nghiệm rút ra từ những buổi đồng hành. Nó rất cần thiết và hữu ích cho vị đồng hành nối kết và tóm tắt lại những điểm chính để chuẩn bị cho buổi đồng hành tiếp theo. Những thông tin thực tế gồm tên, ngày đồng hành, số lần gặp gỡ, ngày và những lần gặp gỡ ngoài lịch đã ấn định, những thông tin và hoàn cảnh vắn gọn của người được đồng hành giúp cho vị đồng hành hiểu hơn về người được đồng hành trong các lần gặp gỡ, những điểm đáng chú trọng của cuộc trò chuyện: những cảm xúc mạnh mẽ hoặc sự băn khoăn; những phản ứng và suy tư của vị đồng hành; tiến trình của các lần gặp, tiến trình đó đưa người được đồng hành tiến gần hay xa trong tương quan với Chúa; những bài học kinh nghiệm hay những tâm tư nào về mối trương quan với Chúa; vị đồng hành hay người được đồng hành rút ra hay được củng cố như thế nào qua những buổi gặp gỡ đồng hành.[24]
- Hành vi không lời
Trong mọi cuộc nói chuyện hay trong các mối tương quan, luôn luôn có những yếu tố được tỏ lộ rõ ràng và những yếu tố hàm chứa bên trong một cách trang trọng hay thân mật, trực tiếp và gián tiếp, ý thức và vô thức. Một cách nào đó, nó được gọi là ngôn ngữ dùng lời và ngôn ngữ không lời. Ở đây chúng ta chỉ chú trọng vào giao tiếp không lời. Nó được thể hiện qua gương mặt, giọng nói, ánh mắt, cử chỉ, tư thế, thể lý, cách ăn mặc, nước hoa, v.v… Nó có thể thể hiện cảm xúc, truyền đạt thái độ giữa các cá nhân, đồng hành và duy trì diễn ngôn, tự diễn tả và hành động theo nghi thức. Nếu chúng ta cố gắng đọc những biểu hiện không lời, chúng ta có thể nắm bắt được nhiều thông tin và hiểu người khác thấu đáo hơn. [25]
- Kỹ năng trợ giúp
Thực ra, vị đồng hành cần nhiều kỹ năng khác chau đễ hỗ trợ cho lãnh vực ĐHTL. Chẳng hạn như, chăm chú, lắng nghe nội dung và cảm xúc, chú ý và thấu cảm, chi tiết, tóm gọn, phân tích, chân thành, cởi mở, hiện thực, thái độ chiêm niệm và đặt những câu hỏi tinh tế. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đặt câu hỏi là một nghệ thuật và nếu đặt câu hỏi đúng lúc sẽ khuyến khích, thúc đẩy và giúp người khác khám phá nếu như họ chưa thực hiện một cách tự nhiên. Kỹ năng này giúp người được đồng hành nhìn lại con người thực của mình, đi sâu vào hoàn cảnh của mình cụ thể qua cách cư xử, những kinh nghiệm, và cảm xúc. Kỹ năng này chỉ mang lại hiệu quả khi vị đồng hành biết cách đặt những câu hỏi mở giúp người được đồng hành khám phá những suy nghĩ và cảm xúc sâu xa, đồng thời làm rõ những khía cạnh quan trọng của vấn đề.[26]
d. Tương quan
- Sự chuyển đổi và phóng chiếu mối tương quan trong ĐHTL
Sau một quá trình dài, người được đồng hành có thể khoác lên vị đồng hành những phẩm chất và thuộc tính liên quan đến người mẹ, người cha, hoặc một người có liên quan tới thời thơ ấu và sau đó hành xử như thể vị đồng hành thực sự là người đó. Sự phóng chiếu xảy ra tùy vào phản ứng của vị đồng hành, sự đáp trả lệch lạc có thể phát xuất từ những mâu thuẫn vô thức của vị đồng hành, hoặc phản hồi cảm xúc của mình cho người được đồng hành. Trong những trường hợp này, có nhiều cách để đối phó, tuy nhiên, trước hết vị đồng hành phải là hiện thân của mẫu người cầu nguyện và khôn ngoan như một người đồng hành cần có. Tiếp đó, vị đồng hành cần bảo vệ mình khỏi sự lạm dụng, không quá nghiêm khắc nhưng cũng cần duy trì sự thống nhất cá nhân và trách nhiệm nghề nghiệp, cụ thể trong ĐHTL. “Sự phóng chiếu là sự chuyển trao một cái gì đó như sức mạnh, thông tin hoặc tình cảm từ một người hay một nơi sang một người hay một nơi khác là hành động di chuyển nó.” [27] Vị linh hướng chú ý và thực hiện điều này trong sự giám sát. Nó cần thiết để nhận ra và làm rõ vai trò của mình là vị đồng hành.
- Ranh giới trong các mối tương quan trong ĐHTL
Ranh giới là giới hạn phân định thời gian, địa đểm, cảm xúc và phản hồi giữa vị đồng hành và người được đồng hành. Những ranh giới này nhằm hỗ trợ cho việc tôn trọng sự hiện diện của Chúa nơi vị đồng hành và người được đồng hành. Vị đồng hành cần giữ ranh giới với mọi người được đồng hành nhưng theo mức độ khác nhau vì mỗi người được đồng hành có cách ứng xử và hoàn cảnh khác nhau. Vị linh hướng cũng cần tôn trọng những ranh giới mà người được đồng hành đặt ra. Hơn nữa, vị linh hướng nên chủ động thiết lập ranh giới vì đôi khi trong trường hợp người được đồng hành trải qua kinh nghiệm bị lạm dụng sẽ khó khăn trong việc lập ranh giới của chính họ, và thường bị cám dỗ thử thách ranh giới của vị đồng hành.[28]
- Sự giám sát (Supervision) của vị đồng hành
Sự giám sát tập trung vào kinh nghiệm của vị đồng hành. Một vị đồng hành tốt là người lắng nghe ở chiều sâu và có tính sáng tạo. Tuy nhiên để luôn là một vị linh hướng tốt, chúng ta phải biết làm mới lại bản thân sau những phản ứng nội tâm khác nhau. Giám sát là để giúp vị đồng hành chia sẻ với người giám sát (supervisor) của họ về việc bị thu hút, tham gia vào, đồng điệu, cảm xúc và cộng hưởng với những gì được chia sẻ; hoặc là sự thấu cảm, thương mến, niềm vui, lòng biết ơn, và cảm nhận sự hiện diện của Chúa nơi người được đồng hành. Đôi khi, tính con người tự nhiên biểu lộ khoảng cách về tình cảm, chán nản, thất vọng, giận giữ, sợ hãi, hay không cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong suốt buổi đồng hành. Vị đồng hành cần chú ý để hiểu một cách sâu sắc hơn những kinh nghiệm của người được đồng hành, đồng thời đẩy mạnh mối tương quan trong sáng và thiêng liêng giữa vị đồng hành và người được đồng hành. Theo William A. Barry, [29] vai trò của việc giám sát được chú trọng trong ĐHTL là nhắm vào kinh nghiệm thiêng liêng của người được đồng hành, kinh nghiệm của vị đồng hành, và quá trình bắt đầu từ lời nói đến những biến chuyển bên trong của vị đồng hành. Nói chung, người giám sát là người đồng hành của vị đồng hành.
3. Huấn Luyện Đời Sống Nhân Bản
Chiều kích nhân bản Kitô giáo là nền tảng cho đời sống cũng như sứ vụ của người tu sĩ. Nền tảng đó không chỉ cần được kiểm chứng khi bước vào đời tu, nhưng còn được điều chỉnh cho thích hợp trong suốt tiến trình huấn luyện, tùy theo sự phát triển của mỗi người và các biến cố cuộc sống.[30] Vì thế, người huấn luyện trong đồng hành cũng cần quan tâm cách thỏa đáng để huấn sinh được nên hoàn thiện theo gương mẫu Đức Kitô. Người huấn luyện và những người hữu trách giúp huấn sinh hướng đến sự trưởng thành tự nhiên của một Kitô hữu, đặc biệt sự trưởng thành về tình cảm, về tự do và lương tâm luân lý, trưởng thành tâm lý, tâm linh, trong sự hiệp thông cụ thể với cộng đoàn, về những trách nhiệm của nếp sống chung và hướng đến trách nhiệm đảm nhận sứ vụ của một nữ tu.[31]
Giúp người thụ huấn nhận diện và điều chỉnh những điểm bất tương hợp đối với các giá trị của đời tu nơi con người tự nhiên của mình; giúp đạt đến sự hội nhất trong nhân cách và cung cách sống đời tu theo đặc sủng riêng của Hội dòng. Người huấn luyện lưu ý giúp các ứng sinh cách cá vị để loại bỏ những trở ngại khiến họ không thể phát triển về mặt nhân bản và phát huy mọi tiềm năng trong việc phục vụ anh chị em. Người huấn luyện được mời gọi để giúp ứng sinh dần dần vượt qua khoảng cách giữa bản ngã đích thực với bản ngã lý tưởng. Ứng sinh cần được khai sáng để đào sâu sự tự biết mình và hiểu rõ mình nhất có thể và sống là mình mỗi ngày một hơn. Hoàn cảnh phức tạp và sự ‘chọn lựa lội ngược dòng’ của đời sống tu trì đòi hỏi ứng sinh có một nhân cách trưởng thành, có lòng hiền hậu và khiêm nhường như Chúa Giêsu.[32]
(Còn tiếp)
[1] x. YT 26; DT 5; GL 663, 1.
[2] CN 17.
[3] Cl 2,7
[4] Tran Minh Huy, Compendium: on Spiritual Formation for Future Priests in the Context of Vietnam Today, (Institute for Consecrated Life in Asia, 2005), 234-244.
[5] See Suzanne M. Buckley, Sacred is the Call: Formation and Transformation in Spiritual Direction Programs (New York: the Crossroad Publishing Company, 2005), 11-16.
[6] See Congregation for Institute of Consecrated Life and Societies of Apostolic Life, New Wine in New Wineskines: the Consecrated Life and Its On-going Challenges since Vatican II (The Incorporated Truth Society, 2017), 16.
[7] See Eric Jensen, “Forgiveness and Healing: Confession and the Spiritual Exercises,” The Way 56, no.1 (British Jesuits, 2017): 101.
[8] See John Paul II, VC, no. 66.
[9] John Paul II, “Love is Key to Education and Works of Charity,” L’Osservatore Romano, no.10 (5 March 2003): 5.
[10] See Thomas N. Hart, The Art of Christian Listening (New York: Paulist Press, 1980), 27-34.
[11] See Ignatius, Hans Urs Von Balthasar Joseph Cardinal Ratzinger: Mary the Church at the Source (Ignatius Press, 2005), 53.
[12] See Suzanne M. Buckley, Sacred is the Call …, 42-47.
[13] Suzanne M. Buckley, Sacred is the Call…, 43.
[14] Luis Jorge González, Guised by the Spirit: Integrative Spiritual Accompaniment, an Approach Centered in the Holy Spirit (Claretian Publications, 1999), 105.
[15] See Rossano Zas Friz De Col, Transforming Spirituality: Celebrating the 25th Anniversary of Study in Spirituality, ed. Hein Blommestijn, Kees aaijman, Inigo Bocken, Titus Brandsma Institute, Nijmegen, and The Netherlands (Peerter, 2016), 618.
[16] Mary Margaret Funk, Discernment Matters: Listening with the Ear of the Heart (Minnesote: Order of Saint Benedict, 2013), 1- 2.
[17] See Rose Mary Dougherty, Group Spiritual Direction: Community for Discernment (New Jersey: Paulist Press, 1995), 24- 34.
[18] Marie Azzarello, Mary the First Disciple: A Guide for Transforming Today’s Church (Claretian Publication, 2008), 199.
[19] See Judette A. Gallares, Journeys of the Heart: Essays on Consecrated Life in Changing Times (Institute for Consecrated Life in Asia, 2015), 281-287
[20] See Mary Frohlich, RSCJ, Spiritual Companioning (handout in the classes, August 7- 17, 2018).
[21] See J.M. Fuster, Personal Counselling (Mumbai: Better Yourself Books, 2016), 113.
[22] See Mary Alice Fisher, The Ethics of Conditional Confidentiality: a Practice Model for Mental Health Professionals (United States of America: Oxford University Press, 2013), 186; see also Guidelines for Ethical Conduct 2014 by Spiritual Directors International.
[23] Thomson, Collins Cobuild Advanced Dictionary of American English, (Harper Collins Publishers, 2007), 1400.
[24] Center for Ignatian Spirituality Philippines (CIS Phil), “Graduate Program in Christian Spirituality Creighton University,” (handout, 2016) and also Emmaus Center, “Spiritual Direction in the Formative Context,” (handout, April 3-24, 2016).
[25] See Matsumoto, David, Mark G. Frank, and Hyi Sung Hwang, eds., Nonverbal Communication: Science and applications: Science and Applications (United States of America: SAGE Publication, 2013), 1-121.
[26] See Gerard Egan, The Skilled Helper: A Problem- Management and Opportunity- Development Approach to Helping (United States of America: Belmont, 2014), 136-148.
[27] Thomson, Collins Cobuild Advanced Dictionary of American English, (Harper Collins Publishers, 2007), 1388.
[28] See Tilden Edwards, “Immediate Givenness to God in the Spiritual Direction Relationship,” Spiritual Directors International: The Home of Spiritual Companionship 1, no. 2 (May, 1995): 8-9.
[29] William A. Barry and William J. Connolly, The Practice of Spiritual Direction (New York: Harper San Francisco, 1982), 177-178.
[30] x. CDHL 33.
[31] x. CDHL 33, 37.
[32] x. Mt 11,29