Các yếu tố quan trọng của việc đồng hành huấn luyện...(tt)

Một chương trình huấn luyện tri thức vững chắc, thích hợp với mục tiêu ơn gọi và sứ mạng của Hội dòng là căn bản của một đời sống thánh hiến phong phú và quân bình...


Xem phần trước tại đây!

4. Huấn Luyện Đời Sống Tri Thức

Một chương trình huấn luyện tri thức vững chắc, thích hợp với mục tiêu ơn gọi và sứ mạng của Hội dòng là căn bản của một đời sống thánh hiến phong phú và quân bình.[1] Trong giai đoạn huấn luyện khởi đầu, việc huấn luyện tri thức phải luôn được quan tâm, và theo tiến trình tiệm tiến phù hợp với sự tăng trưởng, để đạt được một thế quân bình thích đáng giữa việc khai tâm thiêng liêng, việc học tập và rèn luyện về đời sống lẫn sứ vụ của các huấn sinh.[2] Người huấn luyện cần lưu ý theo sát chương trình cụ thể của cấp mình do Hội Dòng đề ra. Những người hữu trách cung cấp cho huấn sinh một sự huấn luyện tri thức nền tảng, tạo điều kiện để các huấn sinh có kiến thức văn hóa ngang tầm mức với sự mong chờ và đòi hỏi của thế giới ngày nay.[3] Giúp họ có kiến thức về triết học nền tảng, hiểu biết đầy đủ đức tin Kitô giáo; sống đức tin cách trưởng thành và biết nhận định về những biến chuyển của xã hội. Phải ưu tiên cho việc học Thần học Kinh Thánh, tín lý, tu đức và mục vụ, đặc biệt đào sâu về đạo lý của đời sống thánh hiến cũng như đoàn sủng của Hội dòng.[4] Đồng thời, đưa dẫn và tạo điều kiện cho các huấn sinh dấn thân vào việc tông đồ và tham gia tiệm tiến vào kinh nghiệm của Giáo hội và theo đặc sủng Hội dòng.[5] “Huấn sinh cũng sẵn sàng đón nhận việc huấn luyện và tự huấn luyện tri thức như một trách nhiệm của bản thân.”[6] 

5. Huấn Luyện Đời Sống Ba Lời Khuyên Phúc Âm

Do việc tuyên khấn, người tu sĩ khấn hứa công khai giữ ba lời khuyên Phúc Âm.[7] Ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục làm thành một khuôn khổ của đời sống người tu sĩ. Với niềm tin vào tình yêu và sự đồng hành của Thiên Chúa, những người sống ba lời khuyên Phúc Âm mang trong mình khát vọng để cho thần trí của Thiên Chúa thấm nhập vào mọi khía cạnh của cuộc sống, một cuộc sống không chỉ để sống nhưng còn để yêu thương.[8]

Đức Khiết tịnh thánh hiến của người tu sĩ chính là sự hiến dâng trái tim không bị phân chia, với mối tình ưu ái dành cho đức Kitô, để cùng Ngài hân hoan phục vụ Nước Thiên Chúa.[9] Nhà huấn luyện giúp huấn sinh cố gắng không ngừng và cầu nguyện liên lỉ để con tim luôn thuộc trọn về Chúa và chỉ tìm kiếm một mình người mà thôi. Giúp huấn sinh hiểu rõ khía cạnh pháp lý của lời khấn khiết tịnh là cam kết giữ sự tiết dục hoàn toàn trong đời sống độc thân vì Nước Trời.[10] Trước khi tuyên khấn, ứng sinh phải thấu hiểu ý nghĩa cao quý và những đòi hỏi của đức khiết tịnh, cũng như ý nghĩa đầy đủ về phẩm giá của đời sống hôn nhân, nhất là phải có sự trưởng thành tâm lý và tình cảm, để sống đời độc thân cách quảng đại, vui tươi và hạnh phúc.[11] Đồng thời, cùng giúp ứng sinh hiểu đức Khiết tịnh là ân ban của Thiên Chúa, người tu sĩ tự nguyện đón nhận trong sự khiêm tốn, tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng trung tín,[12] với lòng biết ơn và tinh thần trách nhiệm. Bên cạnh đó, người huấn luyện cũng chia sẻ với ứng sinh các phương thế siêu nhiên và tự nhiên đã được tích lũy theo kinh nghiệm thánh thiện của dòng lịch sử đời thánh hiến nhằm giúp ứng sinh bình an, thanh thản và hạnh phúc với chọn lựa của mình.

Đức Khó nghèo là chìa khóa của đời sống thánh hiến một cách đặc biệt.[13] Người tu sĩ sống lời khấn khó nghèo trở nên một dấu chỉ ngôn sứ, loan báo cho mọi người rằng Chúa chính là gia nghiệp và là kho tàng duy nhất của con người. Nhờ sống tinh thần khó nghèo, người tu sĩ gắn bó với Đức Giêsu nghèo khó trong niềm vui và lòng tin tưởng vào sự quan phòng của Chúa Cha, chấp nhận những bấp bênh của cuộc sống, luật lệ chung của lao động và giữ cho mình một nếp sống đơn sơ, giản dị, thanh luyện con tim khỏi những ham muốn vật chất, sống tinh thần lệ thuộc, đơn sơ cởi mở với những người hữu trách. Chính cộng đoàn cũng tạo điều kiện thuận lợi bằng cách lo liệu những nhu cầu thiết yếu cho mọi thành viên, gây ý thức tiết kiệm chi tiêu để chia sẻ với những người khó khăn, và trung thành kiểm điểm đời sống khó nghèo của cá nhân và cộng đoàn. Công bằng và bình đẳng.

Lời khấn Vâng phục: Cốt yếu của Đức vâng phục là thực thi Thánh ý Thiên Chúa. Suốt cuộc đời của người tu sĩ là để thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha và tìm kiếm chính Ngài. Qua việc khấn vâng phục, người tu sĩ hiến dâng tất cả ý chí và bước vào kế hoạch cứu độ của Đức Kitô một cách vững mạnh và quyết liệt hơn. Người huấn luyện giúp ứng sinh sống tinh thần đối thoại trong khiêm tốn, lắng nghe, cảm thông, tế nhị và kính trọng những người hữu trách hợp pháp, chân thành, nhã nhặn khi trình bày, dùng tất cả khả năng và ơn Chúa ban để thi hành bổn phận. Trong cầu nguyện và sám hối hãy để cho Lời Chúa và chính Chúa chất vấn thái độ vâng phục của mỗi người.

6. Huấn Luyện Đời Sống Cộng Đoàn

“Việc huấn luyện đời sống cộng đoàn không thể tách rời khỏi việc huấn luyện đời tu.”[14] Cộng đoàn tu trì là quy tụ những con người không chọn nhau và được quy tụ bởi có cùng một lý tưởng và ước muốn chia sẻ sứ mạng chung. Thực tế, điều này cho thấy có nhiều sự khác biệt giữa những người trong cùng một cộng đoàn và chị em cần trải qua một tiến trình cọ xát vừa đủ để các cỗ máy ăn khớp với nhau. Để tránh đổ vỡ trong quá trình cọ xát họ cần đối thoại và điều chỉnh, cả đôi bên nhìn lại chính mình, nhìn nhận sự khác biệt và nhìn nhận lý do của sự bất ổn và chấp nhận sự gọt giũa, sửa mình để phối hợp với nhau nhịp nhàng hơn. Mặc khác, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II nói: Cộng đoàn huynh đệ là một đời sống chia sẻ trong tình yêu[15] phản chiếu mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi[16] là dấu chỉ sự hiệp thông Giáo hội[17] và mỗi người đều có trách nhiệm xây dựng cộng đoàn.

Về việc xây dựng cộng đoàn huấn luyện, văn kiện của Tổng Tu nghị Dòng CĐMVN XXI[18] lưu ý chị em như sau: Đời sống chung phải được coi là môi trường không thể thiếu, và là phương thế ưu tiên trong việc huấn luyện. Cộng đoàn phải là nơi giúp cho các huấn sinh trong các giai đoạn huấn luyện khởi đầu tìm thấy một bầu khí thiêng liêng, một nếp sống khổ chế, một nhiệt tâm tông đồ và những mẫu gương thích hợp để lôi kéo họ theo Chúa Kitô, đúng như ý nghĩa triệt để của việc thánh hiến.[19] Chính huấn sinh cần tập hiểu biết, khiêm tốn chấp nhận những mặt mạnh cũng như hạn chế của bản thân, để dần dần có thể đón nhận, sống hài hòa và trở thành mẫu gương cho chị em khác trong đời sống cộng đoàn và trong hoạt động tông đồ. Mỗi chị em phải chịu trách nhiệm về sự hiện diện của mình trong nếp sống đời thánh hiến, nếp sống cộng đoàn và hoạt động tông đồ để chính mình trở thành mẫu gương cho chị em và cho người khác vì cộng đoàn là loan báo, phục vụ và là chứng tá ngôn sứ. Chính lối sống hằng ngày của cộng đoàn cũng giúp huấn sinh hấp thụ đặc sủng của Hội dòng.

7. Huấn Luyện Đời Sống Tông Đồ

Quá trình huấn luyện các huấn sinh từ việc phân định ơn gọi, đời sống thiêng liêng, nhân bản, tri thức, cộng đoàn cho đến việc huấn luyện thực thi sứ vụ tông đồ. Về phần huấn luyện đời tông đồ, cũng nên lưu ý đào tạo cho các ứng sinh biết mang lấy đặc sủng của Đấng Sáng lập trong khi thi hành sứ mạng vì đặc sủng của Đấng Sáng lập không còn là đặc sủng của một cá nhân, nhưng đặc sủng ấy đã được Hội thánh phê chuẩn nên thuộc về Hội thánh phổ quát và có một vị trí độc đáo trong lòng Hội thánh. Thi hành sứ mạng của Hội dòng theo đoàn sủng của Đấng Sáng lập là thi hành sứ vụ của Hội Thánh,[20] của chính Thiên Chúa Ba Ngôi.

Sứ mạng của các tu sĩ dấn thân làm việc tông đồ là loan báo Lời Thiên Chúa cho những người mà Thiên Chúa đã đặt trên đường đi của họ, nhằm dẫn đưa những người ấy tới đức tin.[21] Việc huấn luyện tông đồ phải được thực hiện xuyên suốt qua các giai đoạn huấn luyện nhằm nuôi dưỡng tinh thần và trang bị kiến thức, khả năng truyền giáo cho mọi chị em. Và nhằm đáp ứng sứ mạng loan báo Tin Mừng qua các công cuộc của Hội dòng, ngoài việc học hỏi ngành nghề chuyên môn. Hội dòng cần huấn luyện những mẫu người có hồn tông đồ và khả năng sư phạm; có tầm nhìn và khả năng thích ứng hội nhập; có kỹ năng lãnh đạo và huấn luyện giáo dân phục vụ cho sứ mạng. Đồng thời không ngừng tự đào luyện cho chính mình trong môi trường sứ vụ[22] để có thể đáp ứng lời mời gọi của Chúa Giêsu “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”[23] Sau khi phân định ơn gọi, trải qua quá trình huấn luyện, đồng hành, người huấn luyện vẫn còn một việc cần thiết nữa là nhận định ơn gọi của huấn sinh.

III. Nhận Định Ơn Gọi

Bộ Giáo luật 1983 dạy rằng: “Giám tập và các vị phụ tá có nhiệm vụ nhận định và trắc nghiệm ơn gọi của các tập sinh; rèn luyện họ dần dần để sống đời trọn lành theo bản chất của dòng.”[24] Thực sự, công việc này đã và đang được các Hội dòng thực hiện trong suốt thời gian huấn luyện khởi đầu của các huấn sinh. Theo bản dự thảo quy chế huấn luyện của Dòng CĐMVN quy định như sau: theo định kỳ, các huấn sinh làm bản lượng định hiện trạng và đánh giá nỗ lực của bản thân dựa trên các chiều kích huấn luyện và tiêu chuẩn định lượng của từng giai đoạn. Cũng theo định kỳ, người phụ trách huấn luyện và các chị phụ tá cùng cộng đoàn mà huấn sinh đến thực tập, làm lượng định cho mỗi huấn sinh. Bản lượng định này được trình lên chị Tổng Phụ trách và ban Tổng Cố vấn, kèm theo ý kiến của các chị về khả năng sống ơn gọi của huấn sinh.[25] Điều này cũng rất cần lưu ý là khi nhận xét vè những thiếu sót của huấn sinh cũng nên quan tân đến việc: đương sự có được nhắc nhở trước trong năm chưa? Không chỉ trong năm nay mà những năm trước trong tiến trình huấn luyện? Trong khi làm việc này, người huấn luyện cũng cần chú ý đến sự biến chuyển của huấn sinh, sự tăng trưởng trong nhân bản và thiêng liêng và lưu ý những điểm cần nhắc nhở huấn sinh.[26] 

D. KHUNG ĐỒNG HÀNH HUẤN LUYỆN CHO CẤP KHẤN TẠM DÒNG CON ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM

“Trong mỗi tu hội, sau khi tuyên khấn lần đầu, tất cả mọi thành viên phải được tiếp tục đào tạo, để sống nếp sống riêng của tu hội cách trọn vẹn hơn và thực hiện sứ mạng của tu hội cách phù hợp hơn.”[27] Và “suốt đời các tu sĩ phải chăm chú việc tiếp tục đào tạo.”[28] Cho đến lúc này ta cũng nên xác định lại, việc đồng hành, gặp gỡ giữa người huấn luyện và các ứng sinh là điều không thể thiếu của công tác đào tạo trong các giai đoạn huấn luyện, đặc biệt giai đoạn huấn luyện khởi đầu. Giai đoạn Khấn tạm của Dòng CĐMVN được chia làm 3 giai đoạn nhỏ: giai đoạn học Thần học (Học viện, từ 2-3 năm), giai đoạn thực tập Sứ vụ (2-3 năm và 6 tháng) và giai đoạn chuẩn bị Khấn trọn đời (6 tháng). Ở các giai đoạn này, mục đích và môi trường huấn luyện có nhiều khác biệt nên việc đồng hành cũng có sự linh hoạt hơn. Điều cần lưu ý khi đồng hành ở đây là: để có được sự lắng nghe khách quan, người đồng hành cần tách biệt những nhu cầu và kỳ vọng riêng của mình khỏi những vấn đề riêng của ứng sinh đó. Hơn nữa, đồng hành theo nhu cầu hiện tại của mỗi ứng sinh, lắng nghe và giúp theo những gì ứng sinh trình bày, nếu cần sẽ hướng ứng sinh đi theo những yêu cầu của quy chế huấn luyện của Hội Dòng, theo đúng giai đoạn về: nhân bản, thiêng liêng, tri thức, cộng đoàn, tông đồ để hiểu hơn về đời sống và con người hiện tại của ứng sinh theo đúng yêu cầu của giai đoạn này, là để cổ võ, giúp hiểu hơn về lịch sử ơn gọi, và nhận biết những dấu hiệu ơn gọi của ứng sinh.

Mục tiêu của việc gặp gỡ là người huấn luyện tìm hiểu tính tình của ứng sinh, chấp nhận ứng sinh như ứng sinh là, cổ võ ứng sinh trong ơn gọi, biểu lộ sự quan tâm của cá nhân đối với ứng sinh, và phản ánh lại cho ứng sinh những gì người đó không thể thấy về bản thân mình.

Thời gian lý tưởng cho những lần gặp gỡ với người huấn luyện: giai đoạn Học viện I và II và giai đoạn chuẩn bị khấn trọn đời (sáu tháng) thì mỗi tháng một lần, giai đoạn phục vụ và Học viện III tại các cộng đoàn thì hai tháng một lần. Nội dung và tiến trình của mỗi cuộc gặp gỡ là do ứng sinh chuẩn bị và chịu trách nhiệm để nhằm đảm bảo việc tiếp tục đào sâu đời sống thánh hiến; trau dồi khả năng tông đồ; hòa hợp các yếu tố của việc huấn luyện để khấn sinh có một đời sống thuần nhất; và hướng khấn sinh đến sự dâng hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa trong đời sống đặc thù của Hội dòng và khả năng cam kết trọn đời sống ơn gọi và thi hành sứ mạng của khấn sinh.[29] 

Với những yêu cầu, mục tiêu của việc đồng hành trong giai đoạn khấn tạm này có thể tóm lại bằng những đề tài có thể thảo luận trong các lần gặp gỡ như: kinh nghiệm hằng ngày về đời sống thánh hiến, cộng đoàn và sứ mạng; vấn đề ơn gọi và những thách đố trong việc dấn thân; quá trình thích nghi và thích ứng vào cộng đoàn, sứ vụ mới; các mối quan hệ cá nhân: trong cộng đoàn, với người cộng tác, học sinh và những người gặp gỡ…; ý nghĩa và thách đố trong việc sống các lời khấn; các kỳ nghỉ thăm gia đình: mối quan hệ với gia đình và bạn bè, cảm nghiệm về ơn gọi, việc duy trì cân bằng, các thách đố, những khám phá…; việc tĩnh tâm năm; sức khỏe, thời gian nhàn rỗi và giải trí; những vấn đề hay khó khăn của gia đình; giới tính, đời sống thân mật, tình bạn và sự cô đơn; vấn đề quyền lực, uy tín, tiền bạc; sứ mạng của Hội dòng và sứ vụ hiện tại; xây dựng và duyệt xét Dự tính cá nhân…. Thiết nghĩ chúng ta cũng nên thêm vào nội dung đồng hành này những gợi ý của cha Raymund P Carey, Phd (có 9 đề tài, bất cứ khi nào thoải mái có thể hỏi ứng sinh cảm thấy muốn chia sẻ về đề tài nào và tiếp tục với đề tài đó, và lọc ra những đề tài còn lại cho những lần đồng hành khác.”[30]

Thông thường chúng ta không trao đổi hết các đề tài cho một lần gặp gỡ nhưng ba điều không thể thiếu cho mỗi lần gặp gỡ là: mối tương quan của ứng sinh và Thiên Chúa; việc cầu nguyện từ những cảm nghiệm hằng ngày của ứng sinh; liên hệ những vấn đề bàn thảo với sự lớn lên trong dấn thân và tiến trình biện phân ơn gọi.

Khi thảo luận về mối tương quan giữa ứng sinh và Thiên Chúa giúp ứng sinh chú tâm và làm rõ những kinh nghiệm về Thiên Chúa trong cuộc sống hằng ngày và trong kinh nguyện. Điều này giúp ứng sinh cả trong mối tương quan với Thiên Chúa và ý thức về sự hiện diện của Người. Từ kinh nghiệm trong mối tương quan này và niềm tin xác tín về sự hiện diện của Thiên Chúa, giúp ứng sinh dễ dàng hơn trong việc chia sẻ những kinh nghiệm thiêng liêng, trong cộng đoàn và trong sứ vụ. Cụ thể là gây ý thức về sự hiện diện của Thiên Chúa tại bầu khí gặp gỡ, đặt ứng sinh trong bối cảnh tìm Chúa qua các biến cố. Và trong quá trình chia sẻ tập trung vào cảm nghiệm của ứng sinh về Thiên Chúa hơn là việc cầu nguyện hay kinh nguyện của ứng sinh.

Thứ đến, việc cầu nguyện từ những cảm nghiệm hằng ngày là để nuôi dưỡng đời sống thánh hiến của ứng sinh: mời gọi ứng sinh đối thoại với Thiên Chúa về những cảm nghiệm đã được đề cập đến trong buổi gặp gỡ: bằng hình thức hỏi đáp, thưa chuyện, thể hiện cảm xúc với Thiên Chúa và lắng nghe hồi đáp của Người, người huấn luyện có thể hỏi, tình huống câu chuyện dẫn ứng sinh liên tưởng đến đoạn Tin Mừng nào?... Điều này cũng có thể dẫn đến một lời cầu nguyện ngắn gọn.

Và cuối cùng, liên hệ những vấn đề bàn thảo với sự lớn lên trong dấn thân và tiến trình biện phân ơn gọi: người huấn luyện duyệt lại và ghi chú tóm tắt những điểm đã bàn thảo qua buổi gặp gỡ để có thể tham khảo cho những lần gặp gỡ tiếp theo, những vấn đề cần biện phân, lưu nhớ những gì đã bàn thảo, cũng giúp cho công việc lượng giá hoặc xét khấn cho ứng sinh. Đây cũng cơ hội để người huấn luyện duyệt lại bản thân: thái độ của mình trong cách đối xử với ứng sinh: cách nghe, hiểu và cảm nhận của người huấn luyện đã đủ khách quan và không thành kiến, thiên kiến, tình cảm hay xét đoán không? Điều làm tiếp theo là cho đương sự biết những suy nghĩ của mình- người huấn luyện: duyệt xét lại những điểm chính đã bàn và mối liên hệ của những điều đó với sự dấn thân của khấn sinh và tiến trình biện phân ơn gọi, những nhắc nhở thân tình về những điều cần tập luyện thêm trong thời gian trước lần gặp gỡ tới, động viên ứng sinh cầu nguyện thêm từ những cảm nghiệm đặc biệt và một lần nữa chốt lại những điều chính yếu và mời gọi ứng sinh nghiêm túc thực hiện!

Một điều tế nhị nhưng cũng không kém phần quan trọng là việc giữ cẩn mật thích hợp cho những gì được tiết lộ trong những lần gặp gỡ, không nhắc lại những thông tin bàn thảo trong những dịp khác hay đưa ra để cười đùa, giễu cợt.[31]

Bên cạnh đó, người huấn luyện cũng cần nắm vững mục tiêu, nội dung huấn luyện và những mong đợi ở cuối mỗi giai đoạn của cấp khấn tạm của Hội dòng[32] để có thể đồng hành, giúp các ứng sinh cách sát sao, đầy đủ và cụ thể hơn. /.

Nt. M. Matta Nguyễn Thị Vân Phương, FMI  


[1] x. CN 19.

[2] x. CN 19.

[4] x. CDHL 46. 61; GL 652,2.

[5] x. CDHL 62.

[6] Dòng CĐMVN, Văn kiện Tổng Tu Nghị XXI, (2021), 51.

[7] GL 654.

[8] x. Samuel H. Canilang, CMF, Thần Học Về Lời Khấn Tu Trì, Lm. Giuse Nguyễn Văn Chữ, O.P., chuyển ngữ, (Claretian Publications Quezon City, 2021), 58.

[9] x. HL12. x. Mt 19,12.

[10] GL 599.

[11] x. DT 12, 13.

[12] x. DT 12, 12.

[13] ĐGH Phanxico, Sức mạnh của Ơn gọi, (NXB Đồng Nai, 2019), 100.

[14] Trương Thanh Tùng SJ, Khía Cạnh Tâm Lý Trong Ơn Gọi và Huấn Luyện Đời Tu, (Giáo Trình Sử Dụng Nội Bộ), 177.

[15] x. ĐSTH 42.

[16] x. HĐ 1.

[17] x. ĐSTH 42.

[18] x. Dòng CĐMVN, Văn Kiện Tổng Tu Nghị XXI, (2021), 45-46.

[19] x. HĐ 27.

[20] x. Charles Serrao, OCD, Biện Phân Ơn Gọi Tu Trì Đào Tạo Hướng Đến Sự Thay Đổi, Lm. Dom. Nguyễn Đức Thông, C.Ss.R., dịch, (Nhà Xuấ Bản tôn Giáo, 2012), 75.

[21] x. YTCY 31. 32.

[22] x. Dòng CĐMVN, Văn Kiện Tổng Tu Nghị XXI, (2021), 53.

[23] Mt 28,19.

[24] GL 652,1.

[25] x. Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Bản Dự Thảo Quy Chế Huấn Luyện, (2023), 13.

[26] x. Dòng Anh Em Trường Ki-tô giáo, Thủ bản Đồng Hành, Tĩnh Dòng La San Việt Nam, Văn Phòng Giám Tỉnh, 2002, tr. 49.

[27] GL 659, 1.

[28] GL 661.

[29] x. HL 96.

[30] Phần phụ lục, tr. 28

[31] x. Dòng Anh Em Trường Ki-tô giáo, Thủ bản Đồng Hành, Tĩnh Dòng La San Việt Nam, (Văn Phòng Giám Tỉnh, 2002), 10-17.

[32] Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Bản Dự Thảo Quy Chế Huấn Luyện, (2023), 39-44